Chào bạn Trang chủ | Tìm kiếm | Bài viết mới | Thành viên | Đăng ký | Đăng nhập |

Trang chủ » HÀN QUỐC & HÀN QUỐC HỌC » Nghiên cứu văn học – ngôn ngữ » PHÂN TÍCH TIỂU THUYẾT ' AI ĐÃ ĂN HẾT CÂY SING-A NGÀY ẤY CỦA TÁC GIẢ PARK WANG SUH- NHÓM THUYẾT TRÌNH LỚP HÀN 1-09
PHÂN TÍCH TIỂU THUYẾT ' AI ĐÃ ĂN HẾT CÂY SING-A NGÀY ẤY CỦA TÁC GIẢ PARK WANG SUH- NHÓM THUYẾT TRÌNH LỚP HÀN 1-09  
Chủ đề trước · Chủ đề tiếp theo
Do Thi Trang Thanh
27/4/2013 12:49:02 PM
Lơ tơ mơ

Cấp bậc: SINH VIÊN

Tham gia: 19/9/2012
Bài viết: 7
Đến từ: Hàn 1-09, Hàn Quốc học, trường xã hội nhân văn

Đánh giá: [0]

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BỘ MÔN HÀN QUỐC HỌC

AI ĐÃ ĂN HẾT NHỮNG CÂY SING-A NGÀY ẤY

GVBM: PGS.TS Phan Thu Hiền

Nhóm thuyết trình: Hàn 1/09

Thành phố Hồ Chí Minh,tháng 4 năm 2013

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN T.P HỒ CHÍ MINH

BỘ MÔN HÀN QUỐC HỌC

c d

Description: Description: 20110830_100128.png

AI ĐÃ ĂN HẾT NHỮNG CÂY SING-A NGÀY ẤY

GVBM: PGS.TS Phan Thu Hiền

Nhóm thuyết trình: Hàn 1/09

1. Trần Thoại Nhã Đan 0956110043

2. Huỳnh Kim Ngân 0956110136

3. Đỗ Thị Thúy Phuợng 0956110189

4. Đỗ Thị Trang Thanh 0956110205

5. La Anh Thư 0956110230

MỤC LỤC

I. ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ ......................................................................................... 4

II. TÓM TẮT .................................................................................................................. 5

III. NHỮNG NÉT ĐẶC SẮC VỀ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT.......................... 13

1. Nội dung ............................................................................................................ 13

2. Nghệ thuật ......................................................................................................... 15

IV. CẢM NHẬN VÀ LIÊN HỆ .................................................................................. 18

LỜI KẾT .......................................................................................................................... 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 25

I. ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ

Park Wan-Suh (1931-2011) sinh ra tại huyện Gaepung, thuộc tỉnh Gyeonggi-do. Tốt nghiệp trường trung học nữ Sookmyung, từng nhập học tại khoa Văn trường Đại học Seoul năm 1950, song bà lại không thế tiếp tục sự nghiệp học hành, bởi đó cũng chính là thời gian cuộc chiến tranh hai miền Nam - Bắc Hàn bùng nổ. Đạt giải thưởng của tạp chí "Phụ nữ Đông Á" ở độ tuổi 40, với tiểu thuyết "Cây trụi lá", Park Wan-suh chính thức đăng đàn. Kế từ đó cho đến tận những năm của tuổi 80, bà vẫn chứng tỏ được độ sung sức và dẻo dai của một cây bút tài năng với nhiều tác phẩm có giá trị.

Thế giới tác phẩm của Park Wan-suh thường tập trung vào các chủ đề lớn như bi kịch chiến tranh, cuộc sống của tầng lớp bình dân, vấn đề phụ nữ v.v...; song, mỗi tác phẩm lại biểu lộ một cách nhìn đầy cá tính rất đặc biệt và chứa đựng những cảm xúc chân thực đầy tính nhân văn, nên có thể nói thế giới tác phẩm của bà luôn thể hiện một cách đầy đủ và sâu sắc về cuộc sống xung quanh.

Các giải thưởng mà nữ tác giả đã nhận được:

· Giải thưởng tác giả văn học Hàn Quốc (1980)

· Giải thưởng văn học Lee Sang (1981)Giải thưởng văn học Đại Hàn Dân Quốc (1990)

· Giải thưởng văn học Di San (1990)

· Giải đặc biệt của Hội văn hóa Trung ương (1993)

· Giải'thưởng văn học hiện đại (1993)

· Giải thưởng văn học Kim Dong-in (1994)

· Giải thưởng văn học Daesan (1997)

· Giải thưởng văn học Manhe (1999)

· Giải thưởng văn học Hwang Sun-won (2001)

Các tác phẩm đã xuất bản:

Tiểu thuyết: "Cây trụi lá", "Buổi chiêu liêu xiêu", "Mùa khát", "Năm hạn hán của đô thị", "Cái bóng của sự tham vọng", "Kiêu căng và mộng tưởng", "Người phụ nữ đứng đó", "Em vẫn còn đang mơ chăng?", "Không thể quên", "Ai đã ăn hết những cây Sing-a ngày ấy?", "Ngọn núi đó có thực ở đó chăng?", "Câu đùa đã lâu", v.v...

Tập truyện ngắn: "Dạy cho biết xấu hố", "Mùa hè phản bội", "Cái cọc của mẹ", "Đi tìm bông hoa", "Bức hình minh họa của ngày tàn", "Hãy nói cho một lời", "Em quá cô đơn" v.v...

Tùy bút: “Sự tán dương dành cho kẻ sau cùng", "Bản hợp xướng cho một người hát", "Phong cảnh chỉ có hai người nam nữ", "Niềm hy vọng được sống", "Sao tôi chỉ thấy bực với những điều nhỏ nhặt?", "Làm người lớn, làm con người", v.v...

II. TÓM TẮT:

Giới thiệu về cây Sing-a:

Là cây thuộc họ Rau Răm (hay còn gọi là cây họ Nghể) có tên khoa học là Aconogonum Polymarphum. Đây là loài thân thảo, sống lâu năm, thường mọc ở sườn núi. Thân cây cao khoảng một mét, cành vươn thẳng, nở hoa màu trắng từ tháng Sáu đến tháng Tám, ngọn non và có vị chua nên còn là thứ ăn vặt phổ biến của trẻ con nông thôn Hàn Quốc trước đây. Hiện tại, ở Hàn Quôc không còn nhiều loài cây này nữa.

Truyện gồm 12 chương: Những ngày thơ ấu, Seoul xa xôi, Bên ngoài cổng thành, Đứa trẻ không có bạn, Ngôi nhà có mảnh sân hình norigae, Ông nội và bà nội, Anh trai và mẹ, Mùa xuân quên hương, Chiếc biển tên nhà bị ném vỡ, Mò mẫn trong bóng tối, Hòa bình của đêm ngày hôm trước, Dự cảm huy hoàng.

Những ngày thơ ấu:

Lúc này tác giả là một cô bé 8 tuổi, cô bé và anh trai là cháu nội duy nhất của một gia đình lưỡng ban sinh sống ở thôn Parkjeok. Cô bé rất được gia đình thương yêu, đặc biệt là từ ông nội, bởi một phần vì nhà chỉ có 2 anh em cô là cháu, và một phần vì cô đã mất bố từ khi mới ba tuổi. Tất cả tình thương từ ông bà nội, các chú thím đều dồn vào hai anh em cô.

Ông nội rất thường đi Songdo để mua vật dụng trong gia đình, mỗi lần đi như vậy đều phải mất vài ngày. Và cô bé là người luôn luôn đứng chờ ông về để được ông bế và cho quà. Việc đứng chờ ông về đã trở thành niềm vui lớn nhất thời thơ bé của tác giả. Nhưng rồi ông nội bị ngã trong nhà xí và ông không thể đi lại Songdo được nữa, kể từ đó niềm vui được chờ ông về cũng không còn. Lần đó ông nội bị trúng gió, dù cô không nhớ gì về khi bố mất nhưng sự yếu đuối của ông nội cộng với bầu không khí nặng nề trong gia đình khiến cô bé cảm giác như đây là lần thứ 2 mất bố.

Đã vậy, lúc đó mẹ cô đã quyết định dời lên Seoul sống để tiện chăm sóc cho con trai vừa học xong tiểu học và tiếp tục học lên nữa. Mặc dù cả nhà đều phản đối nhưng bằng thái độ cương quyết phải đưa con cái thoát khỏi “sự ấu trĩ chốn quê mùa” nên cuối cùng mẹ cô đã để cô lại cho ông bà nội, các chú thím rồi chuyển lên Seoul.

Vì là cháu duy nhất, cộng với việc ông bị bệnh nằm liệt giường và sự vắng mặt của mẹ nên cô bé cảm thấy tự do hơn. Cô thỏa thích chơi đùa với lũ bạn ở sân sau nhà - sân chơi lí tưởng nhất thời bé. Nhà xí cũng trở thành chổ chơi đùa thú vị của họ. Rồi chơi những trò mà tất cả trẻ con đều thích, đó là: tìm thức ăn vặt, đồ chơi trong vườn hay trên núi, bắt tôm ở suối, trò cô dâu chú rể, tắm mưa, ...

Từ khi ông nội bị trúng gió, ông đã chuyển sang mở thư đường để dạy chữ Hán cho bọn trẻ con trong làng, kể cả cho đứa cháu nội của mình. Nhưng không được bao lâu thì ông lại bị trúng gió và càng khiến sức khỏe của ông tệ hơn và không thể tiếp tục dạy được nữa. Một lần trong lúc ông nội nhờ cô bé quẹt diêm để châm thuốc dùm ông nhưng cô không làm được bởi trước đó cô chưa bao giờ quẹt thử diêm hay đã trông thấy người khác quẹt như thế nào. Ông nội bảo cô cầm hộp diêm rồi tự cầm que định quẹt nhưng tay run run nên đành chịu thua. Nhìn thấy dáng vẻ tội nghiệp của ông, cô cảm thấy vô cùng xấu hổ, òa khóc rồi chạy ra ngoài. Đó là ký ức buồn thảm nhất trong những ngày thơ ấu của cô.

Seoul xa xôi:

Với ý nghĩ muốn con gái trở thành “thiếu nữ tân thời năng động”, người mẹ đã trở về nhà để mang con gái lên Seoul. Mặc cho cả nhà phản đối vì với gia đình lưỡng ban thì con gái không được đi xa khỏi nhà mà đặc biệt lại còn quá nhỏ, nhưng người mẹ vẫn cương quyết phải mang con đi bằng được.

Bà nội đưa hai mẹ con đến tận ga Gaesong, Songdo. Trên đường đi cô bé không khỏi ngạc nhiên trước vẻ tráng lệ của Songdo mà lần đầu tiên được nhìn thấy. Cô bé vừa cảm thấy thích thú vừa thấy sợ hãi, cảm giác nữa muốn tiếp tục theo mẹ đến vùng đất mới đầy thần kì, nữa muốn quay trở về với ông bà nội. Hình ảnh bà nội lủi thủi đứng bên ngoài cửa sổ cứ xa dần khi con tàu bắt đầu lăn bánh đến lúc không nhìn thấy được nữa khiến cô bé cảm thấy day dứt, khó chịu, nước mắt trào ra lăn dài trên má.

Cuối cùng cũng đến được Seoul xa xôi, hai mẹ con cùng người khuân vác hành lí thuê cuốc bộ về nhà. Mẹ cô đang thuê một căn phòng nhỏ của một ngôi nhà lá nằm cheo leo trên một con dốc dựng thẳng đứng ở phường Hyeonjeo-dong.

Bên ngoài cổng thành:

Nơi cô bé, mẹ và anh đang ở không phải là Seoul mà là ngoại thành Seoul. Để tránh gây mâu thuẫn với chủ nhà nên mẹ dặn cô không được chơi chung với con gái chủ nhà, vì nghĩ mâu thuẫn của người lớn đều phát sinh từ chuyện của con nít. Mẹ cô đã đăng kí cho cô thi vào một trường tốt ở nội thành – trường Maedong - và đăng ký thường trú cho cô ở nhà của một người bà con ở phường Sajik-dong. Cô bé phải học thuộc cả 2 địa chỉ nhà, một cái để ghi vào giấy thi và một cái để phòng khi đi lạc mà biết đường về nhà. Rồi sau đó cô cũng thi đỗ vào trường Meadong, giấy báo được gửi đến địa chỉ nhà ở phường Sajik-dong.

Để nuôi 2 anh em cô ăn học cùng một lúc, mẹ cô phải nhận may đồ cho kỹ nữ, điều cấm kỵ đối với gia đình lưỡng ban. Có một điều mâu thuẫn là mẹ cô cũng cấm không cho chơi với lũ trẻ trong xóm, vì cho rằng con gái mình là con gia đình dòng dõi, nhưng bản thân mình thì lại phạm điều cấm kỵ là “tiếp xúc” với kỹ nữ. Mặc dù bị mẹ cấm cản, nhưng với tâm lý của một đứa trẻ mới lên tám thì cô bé luôn luôn tò mò về những gì đang diễn ra xung quanh mình. Xung quanh nơi cô ở, toàn những người lao động vất vả: thợ hàn , khuân vác, sửa ống khói, ... Một hôm cô trốn mẹ ra ngoài chơi với bọn trẻ trong xóm, chúng chơi ở một khoảng sân rộng, nơi có một bứa tường dài hút tầm mắt và rất cao. Bên trong đó là nhà tù. Khi tình cờ bắt gặp một đoàn tù nhân ở ngoài cổng thành thì cả bọn hớt hải chạy về nhà, mẹ cô đã rất nổi giận và cảm thấy xấu hổ, nhục nhã khi không có điều kiện nên để cho con chơi ở trước nhà tù. Cô bé đã thề với mẹ là sẽ không chơi ở đó nữa và cũng không chơi với bọn trẻ “cặn bã xã hội” – lời mẹ cô nói về bọn trẻ trong xóm.

Đứa trẻ không có bạn:

Ở trường Maedong ngôn ngữ được sử dụng để dạy và học là tiếng Nhật. Cô bé và các bạn cùng lớp được cô giáo xinh đẹp dẫn đi tham quan và dạy các từ ngữ đơn giản bằng tiếng Nhật. Wan Suk lúc nào cũng bị đẩy tít đằng sau, mặc dù đã cố gắng chen vào để nắm tay, bám váy cô giáo nhưng những đứa bạn trong lớp nhưng không thể nào đến gần cô giáo được. Con đường đến trường hằng ngày của Wan Suk cũng chỉ có một mình. Cô bé cảm thấy bất hạnh khi không thể kết bạn được với những đứa trẻ ở Seoul, những lúc thấy cô đơn Wan Suk lại nhớ về lúc còn ở quê, nào là ngọn núi phía sau nhà có rất nhiều thứ để ăn được, bứt lá cây thài lài làm sáo thổi, lượm da rắn về cất trong tủ nhà vì tin rằng sẽ giàu có, ...

Một hôm tình cờ nhìn thấy bọn con trai bẻ lấy cành hoa keo và cho vào miệng an ngon lành, Wan Suk cũng bắt chước làm theo. Nhưng cái vị hoa keo ấy tanh lờm và lờ lợ. Nó làm cho Wan Suk chợt nhớ đến những cây Sing-a ở quê, thân cây Sing-a có vị chua rôn rốt. Vị chua ấy làm Wan Suk ứa nước miếng và mải miết đi thẳng vào rừng, cứ ngỡ là đang ở quê, nhưng dù cố gắng tìm mãi thì vẫn không thấy có ngọn Sing-a nào. Ai đã ăn hết những cây Sing-a ngày ấy? Cảm giác lẫn lộn len lõi trong tâm hồn của một đứa trẻ vừa mới xa quê.

Ngày bế giảng năm học là ngày cô vui nhất, trong khi những đứa bạn ở Seoul phải tiếp tục trải qua kì nghỉ hè ở dất Seoul nhàm chán, thì cô được mẹ dẫn về quê, được gặp ông bà nội và chơi đùa thỏa thích. Cứ như vậy mỗi năm, anh em cô được về thăm quê 2 lần, dịp nghỉ hè và nghỉ đông.

Mẹ cô thường hay kể chuyện cho cô nghe: Đậu Đỏ Đâu Đen, Thủy Hử, Park thị phu nhân truyện, ... Mặc dù không phải là các thể loại dành cho thiếu nhi, nhưng bằng tài năng biến hóa của mình, mẹ cô đã biến chúng trở thành những câu chuyện khiến cô vô cùng thích thú. Và trong suốt 6 năm học tiểu học, những câu chuyện của mẹ kể đã trở thành nguồn an ủi lớn lao trong những ngày tháng khốn khó ấy. Nó khiến cô cảm thấy vui vẻ , không cảm thấy sợ hãi hay buồn chán khi không có một đứa bạn nào.

Ngôi nhà có mảnh sân hình norigae:

Anh trai của Wan Suk được vào làm ở Phủ toàn quyền, được nửa năm thì chuyển sang làm ở xưởng sắt Watanabe, một công ty tư nhân của người Nhật. Mẹ của Wan Suk đã rất thất vọng vì cứ mong cho con học hành thành tài sẽ được làm chức cao trong Phủ toàn quyền. Anh trai cô đã phải an ủi mẹ cô rằng làm công việc bàn giấy ở đó và lương lại cao gấp đôi so với ở Phủ toàn quyền. Anh trai cô muốn mẹ ngừng việc may vá, chỉ ở nhà nghỉ ngơi, nhưng bà không chịu cho đến khi mua được nhà. Nhưng cái ý nghĩ mua nhà lại đến sớm hơn so với dự định, vì họ cãi nhau với gia đình chủ nhà, mà nguyên nhân là do Wan Suk đã cào vào mặt con gái chủ nhà khi cả hai đang chơi chung với nhau. Trải qua nhiều khó khăn và bằng sự khôn khéo của người mẹ, họ đã mua được căn nhà ngói sáu buồng trên đỉnh phường Hyeonjeo-dong. Họ gọi đây là “ngôi nhà mảnh sân hình norigae”, bởi sân của ngôi nhà có hình tam giác trông giống như một chiếc norigae.

Chiến tranh thế giới thứ hai dùng nổ vào thời gian họ ở “ngôi nhà mảnh sân hình norigae”, Nhật Bản liên tiếp thắng trận ở các hòn đảo ở Nam Thái Bình Dương. Lúc đó trong nước có lệnh thay đổi họ tên, ai thay đổi họ tên theo Nhật thì sẽ dễ sống hơn. Nhưng ông nội nhất định phản đối chuyện thay đổi họ tên mặc kệ các chú và mẹ năn nỉ hết lời. Nếu đổi tên thì các chú của Wan Suk, chú thứ làm thư ký xã và chú Út đang buôn bán trên Seoul sẽ dễ sinh sống và làm ăn hơn, còn đối với Wan Suk cũng sẽ không bị liệt vào danh sách cá biệt trong trường.

Ông nội và bà nội:

Ông nội mất sau trận trúng gió lần thứ ba. Nhưng Wan Suk đã không nhỏ một giọt nước mắt nào trong suốt lễ tang của ông nội. Sau tang lễ, mẹ cô đã khó chịu và buông ra những lời trách móc cay nghiệt khiến Wan Suk òa khóc thảm thiết. Nhưng đó là những giọt nước mắt vì bị xúc phạm chớ không phải vì buồn rầu. Dù không khóc nhưng những kí ức dù nhỏ nhặt nhất về ông Wan Suk đều nhớ rõ đến lúc cô trưởng thành, và cô cho rằng điều này không thuộc về trí nhớ mà là do vấn đề tình cảm. Sợi dây thừng treo lơ lững trên xà nhà mà ông nội đã dùng để trèo lên trèo xuống lúc còn sống vẫn còn giữ ở đó. Sau này, mỗi lần về quê, hình ảnh chiếc dây thường đập vào mắt cô làm cô có cảm giác đau đớn. Cô thường bám lấy sợi dây và tưởng tượng đang tận hưởng cảm xúc lúc ngồi vào lòng ông, không ai phát hiện việc làm đó cả.

Tình hình chiến sự ngày càng bất lợi, ở trường học thường xuyên diễn tập phòng không hơn. Lúc đó mẹ và các chú đều thúc giục thay đổi họ tên, nhưng anh trai của Wan Suk (theo nguyên tắc thì sau khi ông nội mất, anh trai Wan Suk là người giữ quyền chủ hộ trong gia đình) dứt khoát không đồng ý.

Lên năm thứ năm, Wan Suk lần đầu tiên có được người bạn thân. Bok Sun mới chuyển trường tới và được cô giáo ghép cặp với Wan Suk, Bok Sun học rất giỏi và kể từ ngày bắt cặp với Bok Sun điểm số của Wan Suk cao hơn hẳn. Chủ nhật tuần nào 2 đứa cũng rủ nhau đi thư viện đọc sách.

Lên lớp sáu, trường tổ chức tham quan Gaesong – quê nhà của Wan Suk. Trong gia đình có truyền thống là ai đi đâu hoặc về đều có người trong gia đình ra đưa đón. Lần ấy bà nội mang bánh seongpeon ra tận ga Gaesong chỉ để gặp mặt và đưa bánh cho đứa cháu gái biếu cô giáo, chia cho các bạn. Thế nhưng Wan Suk cảm thấy rất khó chịu, xấu hổ với bạn bè khi có người nhà ra đón. Trong khi bà nội vui mừng khi gặp được đứa cháu thân yêu, thì Wan Suk lại mong cho mau mau qua cái khoảnh khắc ấy. Nhưng sau đó Wan Suk lại trở nên u ám, vừa hối hận khi đã đối xử như vậy với bà, vừa không hiểu tại sao mối quan hệ trong gia đình lại khắng khít đến vậy.

Anh trai và mẹ:

Wan Suk thi đậu vào trường trung học nữ Sukmeong, anh trai đã dẫn em gái đi ăn ở nhà hàng Âu, mua tặng một bộ đồ Âu trong lúc cuộc sống của người dân càng trở nên khốn khó vì thuế khóa.

Đây là thời điểm bước vào giai đoạn cuối thời kì Nhật Bản thống trị, khắp nới đều có lệnh huy động tòng quân. Anh trai Wan Suk cũng nhận được giấy gọi nhưng nhờ thân thiết với ông chủ nhà máy nên được ông chủ viết giấy chứng nhận xin miễn. Lúc đó anh trai Wan Suk cũng đã từng xin cho một người khác cùng làm chung được miễn tòng quân vì còn gia đình, chịu hy sinh mình nhưng cuối cùng vẫn không được chấp thuận. Mẹ Wan Suk đã rất kinh ngạc và không hiểu sao con trai mình lại hành động như thế, giữa lúc thời thế ai cũng muốn tranh giành từng phút giây để sống.

Lương thực cấp phát ngày một giảm, mẹ Wan Suk phải thường xuyên về quê để lấy gạo. Vốn dĩ ở dưới quê cũng đang hỗn loạn vì phải nộp thuế rất nặng, nhưng nhờ có chú thứ là thư ký xã nên gia đình tránh được sự bốc lột như những người trong làng khác. Nhưng việc chuyển gạo lúc đó không dễ chút nào, luôn bị quân lính kiểm soát nghiêm ngặt vì có lệnh cấm buôn lậu gạo. Mẹ Wan Suk là người không phân biệt con trai con gái nhưng rơi vào tình cảnh khó khăn, đói lả ấy bà cũng phải nấu cơm riêng cho con trai, không bao giờ để cho con trai ăn cơm trộn với bã đậu, còn mình và con gái ăn cơm trộn bã đậu, mà phần bã đậu trong chén của bà luôn nhiều hơn trong chén của con gái.

Mùa xuân quê hương:

Khi ấy Seoul có lệnh sơ tán những gia đình giàu có về quê, vì sợ Seoul sẽ biến thành biển lửa nên gia đình Wan Suk cũng bắt đầu chuyển nhà. Không muốn về quê khi chưa “áo gấm hồi hương” nên mẹ Wan Suk quyết định mua nhà ở Gaesong, ngôi nhà nằm ở chân đồi Nongbawi, phường Namsan-dong. Wan Suk cũng chuyển về học ở trường cấp 3 nữ Hosudon ở Gaesong. Trong lúc mọi việc đang rối bời, anh trai Wan Suk muốn cưới vợ, lúc đầu mẹ Wan Suk tỏ ra không đồng ý phần vì tình cảnh đang khó khăn, phần vì người con gái đó đang mang bệnh nặng (lao), nhưng cuối cùng vẫn không thể thuyết phục được con trai. Cả nhà hối hả chuẩn bị cho một đám cưới gấp rút.

Đ học ở trường mới được khoảng mười ngày thì Wan Suk phải về quê dưỡng bệnh vì bị viêm phổi. Đó là lần đầu tiên sau bao nhiêu năm xa quê cô được trở về đúng vào mùa xuân. Lúc ấy Wan Suk đã được 16 tuổi, lứa tuổi tràn trề tình cảm, mùa xuân năm ấy thật đẹp. Wan Suk vô tư vui đùa ở quê, đi tìm những bông hoa linh lan, đi câu cá với chút út, được chứng kiến cảnh cả nhà cùng nhau quây quần làm bát giấy, vừa làm vừa trò chuyện rất vui vẻ.

Ngày 15/8, tin Nhật Bản thua trận, đất nước được giải phóng. Nhưng đến 3 ngày sau thôn Parkjeok mới nhận được tin.

Chiếc biển tên nhà bị phá vỡ:

Khi cả đám thanh niên cầm gậy gộc hùng hổ xung vào nhà đập phá thì cả nhà Wan Suk lúc đó mới hay tin Nhật đã thua trận hoàn toàn. Đám thanh niên đó đập phá đồ đạc trong nhà, còn vứt biển tên nhà cô. Đó là cái biển đề tên ông, kể từ khi ông mất họ vẫn giữ nguyên cái bảng tên ấy mà không thay thế bằng tên của các chú hay anh trai Wan Suk. Cô bé phản ứng dữ dội nhất từ trước đến giờ khi không thể chịu được cảnh tượng chiếc biển tên bị họ đập phá, cô định xông vào đám thanh niên đó thì bị anh trai ngăn cản, anh trai bảo cứ để họ đập phá, có như vậy thì mới đỡ nhục hơn khi gặp những người trong làng.

Giữa lúc đó, lính Mỹ và Liên xô đã tràn vào Triều Tiên, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới phân chia vùng tiếp quản. Người dân kéo nhau đi về hướng nam, cảnh tượng cả đoàn người đi theo đường tàu, chen lấn nhau để được lên tàu về Seoul thật kinh khủng. Gia đình Wan Suk cũng chuyển nhà về Seoul, họ mua được một căn nhà trên đường Sinmum-ro gần Gwanghwamun lúc thời thế đang hỗn loạn. Ước mơ trở thành “người trong thành” của mẹ Wan Suk trở thành hiện thực, bà say sưa dọn dọn, trang trí lại nhà cửa để đón con dâu vừa mới nhập viện trở về nhà.

Wan Suk cũng đã nhập học trở lại trường Sukmeong, lúc này là khoảng thời gian cô được tiếp xúc nhiều với các tác phẩm văn học trên thế giới, chủ yếu là tiểu thuyết.

Một tháng sau khi trở về nhà, chị dâu của Wan Suk phải nhập viện lại.Và lần này không thể quay trở về nhà được nữa.

Mò mẫm trong bóng tối:

Đây là khoản thời gian khiến Wan Suk vô cùng ngột ngạt, hoàn cảnh gia đình phức tạp, cục diện đất nước hỗn loạn. Khắp nơi đều hô hào khẩu hiệu “tự do”, “chủ nghĩa dân chủ”. Trong trường thường xuyên xảy ra việc học sinh tự đình chỉ giờ học để tiến hành thương thuyết với giáo viên. Học sinh thời ấy đã lần tưởng rằng chủ nghĩa dân chủ mang lại quyền hành tuyệt đối cho học sinh, sinh viên. Nhưng thầy Hiệu trưởng mới được bổ nhiệm đã thuyết phục được họ rằng họ đã sai.

Ngày ấy, Wan Suk chưa một lần nêu ra chính kiến của mình trong hội học sinh, mà chỉ đơn thuần vỗ tay theo số đông. Cô bắt đầu nhìn nhận sự việc xung quanh bằng con mắt có chính kiến, bằng quan điểm mang tính chất đối lập ý niệm giữa cánh tả và cánh hữu, và cô tán thành vô điều kiện đối với cánh tả. Đó là do ảnh hưởng từ người anh trai. Wan Suk thần tượng anh trai mình, cô bị mê hoặc bởi tính cách trầm lắng, sâu sắc của anh, cô còn bị cảm hóa bởi hầu hết tất cả quyển sách mà anh mang về cho cô, những quyển sách đó đều mang chung màu sắc cổ vũ tinh thần đấu tranh của con người.

Kề từ ngày vợ mất, anh trai Wan Suk trở nên u uất và ít nói. Anh bắt đầu bí mật hoạt động như một “quân đỏ”. Khi biết việc làm của con trai, mẹ Wan Suk hối hả chuyển nhà vì lo lắng cho sự an nguy của con mình. Một người lúc nào cũng tán thành, ủng hộ theo lối suy nghĩ, làm việc của con cái như mẹ Wan Suk thì nay lại mâu thuẫn với con trai vì chuyện con trai là “quân đỏ”. Và cứ như thế, mỗi lần thấy bất an, cảm thấy nhà mình sắp trở thành căn cứ bí mật cho những mưu đồ không bình thường nào đó thì mẹ Wan Suk lại chuyển nhà. Cảm thông với nỗi niềm của anh trai, Wan Suk lúc ấy cũng tham gia vào tổ chức Mincheong (Đoàn Thanh niên dân chủ Triều Tiên), đến khi mẹ cô biết được thì cô đã từ bỏ, mặc dù biết là hành độnh hèn nhát nhưng không thể làm trái ý của mẹ.

Tình đến trước khi chiến tranh Nam – Bắc Hàn nổ ra thì họ đã chuyển nhà 3 lần, song anh trai Wan Suk hoàn toàn bị cuốn hút vào hoạt động bí mật.

Hòa bình của đêm ngày hôm trước:

Đó là vào tháng 5/1950 (25/6/1950 chiến tranh Nam – Bắc Hàn), Wan Suk chuẩn bị ôn thi vào trường Văn Lý. Nhà lại được chuyển sang vùng ven Donam-dong vì muốn anh trai cưới vợ lần 2 để có thể từ bỏ “quân đỏ”. Sau khi cưới vợ và sinh được con trai, anh trai Wan Suk đã rời xa tổ chức và đi dạy học ở trường cấp hai Goyang. Lúc đó chính phủ Đại Hàn Dân Quốc sau khi thành lập được một năm có phương châm là tiêu diệt “cánh tả”, điều nó khiến anh trai và mẹ của Wan Suk vừa lo sợ, vừa cắn rứt lương tâm vì nghĩ mình hèn nhát.

Wan Suk đậu đại học, cô mơ ước được tự do, thoát khỏi vòng tay của mẹ. Thế rồi điều đó thành hiện thực khi anh trai được trường học cấp nhà ở gần trường và mẹ cô muốn chuyển nhà để tiện việc đi làm của con trai, được sống cùng với vợ con và mẹ của Wan Suk có được mảnh vườn để trồng trọt, Wan Suk được cho về ở cùng với chú thím, nhà chú thím vẫn ở Seoul.

Dự cảm huy hoàng:

Tình hình đất nước lúc này thay đổi chóng mặt. Sau khi quân Bắc Hàn tràn qua vĩ tuyến 38, không bao lâu sau đã chiếm được Seoul. Lúc này Wan Suk phải tạm ngưng việc học ở trường Văn Lý. Người dân nháo nhào tìm đường lánh nạn, nhà Wan Suk cũng thế. Vừa chuẩn bị lương thực để đi vừa trong ngóng anh trai Wan Suk từ trường học trở về để cùng đi lánh nạn. Trong khi Wan Suk phấn khởi bởi sự Nam tiến của quân Bắc Hàn, bởi lẽ anh trai cô và cô vốn dĩ từng hoạt động cách mạng, nhưng mẹ cô lại có suy nghĩ ngược lại, không xuôi theo chiều gió nữa mà có phần hy vọng vào quan Nam Hàn.

Cuối cùng thì quân Nam Hàn cũng giành được thắng lợi nhờ sự giúp sức của quân Liên Hiệp Quốc. Chú út bị tử hình (vì bị nghi là tay sai cho đội cảnh vệ của quân Bắc Hàn) còn gia đình Wan Suk phải lận đận đi xin cấp thẻ thị dân vì cũng bị tố cáo là gia đình cộng sản. Cả nhà đi sơ tán vì mục đích tác chiến, băng qua cầu sông Hàn, họ lại trở về với phường Hyeonjeo-dong.

III. NHỮNG NÉT ĐẶC SẮC VỀ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT:

1. Nội dung

Cuốn tiểu thuyết Ai đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy? mở ra với những ký ức ngọt ngào, cô bé Wan-suh tám tuổi, sống yên vui trong sự yêu thương bảo bọc của đại gia đình ở thôn Parkjeol: “Cánh đồng làng trải rộng tựa như tấm váy rực rỡ nhiều màu sắc… Cả một vùng đất trồng trọt rộng lớn chưa từng biết mất mùa là gì...” Nơi ấy, cất giữ những năm tháng êm đềm, trong trẻo nhất của thời thơ ấu. Những trò chơi vô tận với bạn bè, đi nhà xí, vớt tôm sú, tắm mưa, lễ lên đồng với các mudang (thầy tế) có thể đi thoăn thoắt trên những lưỡi dao và canh bánh teok ngon lạ thường…

Mọi việc chỉ thay đổi khi người mẹ quyết định phải cho con cái học hành ở thủ đô Seoul - và rồi cũng rất nhanh chóng, câu chuyện chuyển sang một bối cảnh khác - nơi mà tất cả những gì thuộc về thôn Pakjeok tươi đẹp chỉ còn là hoài niệm. Hai anh em cùng mẹ liên tục chuyển nhà, chịu đựng cuộc sống khốn khó của người nhập cư, những ngày người mẹ phải nhận may đồ cho kỹ nữ - một việc được cho là nhục nhã thời kỳ đó - để kiếm tiền nuôi hai anh em ăn học…

Điều đặc biệt còn ở chỗ, câu chuyện của nhân vật của gia đình cũng chính là thân phận của cả đất nước Hàn Quốc trong suốt cả một chặng đường dài lịch sử, từ giai đoạn hòa bình yên ấm cho đến khi phải đi hết thời tao loạn này đến thời tao loạn khác. Từ thời kỳ đô hộ của Nhật Bản, cho đến những năm tháng diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai miền Nam - Bắc trên bán đảo Triều Tiên. Và như lời người dịch - câu chuyện không phải được đọc bằng từ, bằng chữ, mà là bằng cảm xúc, những cảm xúc xuyên suốt năm tháng, qua lăng kính của tác giả, khi còn là một cô bé con đến lúc trưởng thành, chứng kiến hết những bi kịch gia đình, bi kịch của đất nước và dân tộc. Trong hoàn cảnh nhiễu nhương của những cuộc chiến, dường như số phận của một con người, một gia đình và của cả một dân tộc “chỉ có thể thả mình trôi theo định mệnh đã an bài.” Những điều đẹp nhất còn lại là những ký ức lung linh, tươi sáng: ngọn núi nhỏ sau nhà với cây sing-a, thung lũng hoa linh lan, đám cưới của anh trai, các nàng dâu quây quần làm bát giấy… Ai đã lấy đi những khung cảnh thiên nhiên đẹp dường vậy? Ai đã phá vỡ sự đầm ấm yên vui của một gia đình? Ai đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy? Cuốn tiểu thuyết “viết hoàn toàn dựa vào ký ức”, dựa trên những câu chuyện nhỏ nhặt, giản dị mà chạm đến những nơi chốn sâu thẳm nhất trong mỗi con người.

Câu chuyện không miêu tả nhiều về cảnh tượng chiến tranh, mà khắc khoải nỗi buồn trước định mệnh cay nghiệt làm thay đổi cuộc đời của mỗi con người: Mẹ của Wan-suh là con dâu trưởng trong một gia đình lễ giáo, vì cần tiền nuôi con cái phải chấp nhận may đồ cho kỹ nữ, chịu sự khinh miệt; để tồn tại ở Seoul vợ chồng chú họ của Wan-suh phải chạy vạy, làm đủ mọi nghề kiếm sống; anh trai của Wan-suh bị lưu lạc và trở về với thân hình tàn tạ, tâm trạng hoảng loạn. Cuộc chiến khắc nghiệt cũng làm cho tâm hồn non trẻ của Wan-suh bị khuấy động, thương tổn. Khi nhà của Wan-suh bị người ta đập phá vì tội “thân Nhật”, cô bé vốn là một đứa trẻ ít nói, nhẫn nhịn đã “gào lên một cách vô vọng và xông thẳng vào tên đó... không hề cảm thấy sợ hãi trước cảnh bạo lực mà lần đầu tiên trong đời được chứng kiến” (trang 231). Cuộc chiến dai dẳng với cái đói cũng đã làm cho cô bé Wan-suh từ một đứa trẻ ngoan hiền đã phải đi ăn trộm bánh kẹo để lót dạ... Bên cạnh tâm trạng u buồn và nỗi đau của một đứa trẻ chứng kiến cảnh nhà tan cửa nát khi đất nước bị chia cắt, là niềm khao khát có được một cuộc sống ấm êm, hạnh phúc...

Qua những lời kể của nhân vật, bối cảnh đất nước Hàn Quốc thời bấy giờ được hiện lên một cách cụ thể và thực tế. Những đau thương, chật vật, khốn cùng của những con người phải chịu đựng chiến tranh. Những hoàn cảnh đẩy con người đến sự đau khổ, dằn vặt trong lí trí để mưu sinh, hay để giữ lại thể diện của một tầng lớp trong xã hội bấy giờ. Rồi cuối cùng, mọi thứ cũng chấp nhận xuôi theo sự sắp đặt đã được an bài của thời thế. Cuối tác phẩm, Wan- suh đã là cô gái tuổi đôi mươi và cuộc nội chiến của đất nước vẫn còn chưa dứt. Trong nhận thức của cô gái trẻ: số phận của mỗi con người vẫn bấp bênh và dường như phải chịu an bài theo cuộc chiến, thế nhưng ai cũng quyền mơ ước về một tương lai tươi đẹp, trọn vẹn.

2. Nghệ thuật

Nét đặc sắc mà Park Wan Suh đã làm được đó là tái hiện lại hoàn cảnh lịch sử thông qua tác phẩm này. Vì là tác phẩm văn học-lịch sử nên nó chứa đựng sự kiện lịch sử đặc biệt. Cuộc sống xuất hiện trong tác phẩm văn học luôn luôn là cuộc sống trong một thời đại cụ thể nào đó. Vậy nên, muốn tiếp nhận tác phẩm một cách trọn vẹn thì nhất định phải hiểu được bối cảnh thời đại xuất hiện trong tác phẩm, tức là bối cảnh lịch sử, từ đó mới có cơ sở để nắm bắt chính xác hình tượng nhân vật xuất hiện trong tác phẩm. Hơn nữa, thông qua quan hệ mâu thuẫn giữa các nhân vật thì chúng ta nhận ra được chủ đề của tác phẩm là điều đương nhiên, nhưng để có cái nhìn sâu sắc về tác phẩm thì quan trọng hơn hết là phải quan sát kĩ bối cảnh lịch sử nữa.

Mặc dù bối cảnh lịch sử đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm này nhưng không giống như những nhân vật, sự kiện xuất hiện trong sách lịch sử một cách cứng nhắc mà dưới ngòi bút của Park Wan Suh thì những trải nghiệm, hình ảnh cuộc sống và tình cảm của những con người bình thường được phác họa rõ nét, sinh động và phong phú. Đây là chủ đề có liên quan mật thiết đến ý nghĩa giáo dục chứa đựng trong tác phẩm của Park Wan Suh. Thông qua cuộc sống và tình cảm của những con người thời bấy giờ, tác giả đã cực đại hóa bi kịch thời đó và làm cho người đọc nghĩ như mình đang sống trong thời đại đó vậy.

Tác giả đã miêu tả truyện theo trình tự thời gian theo kí ức trong quá khứ của bà. Thế nhưng đan xen vào đó là những hồi tưởng lại quá khứ trong những tình tiết truyện đó. Tức là bà nhớ lại những chi tiết trong quá khứ, rồi từ trong những chi tiết đó lại xuất hiện những hồi tưởng lại một lần nữa về những gì đã xảy ra trước đó. Ví dụ như bà nhớ lại những hồi ức đẹp tuổi thơ của bà đã có khi cảm thấy thiếu thốn, nhạt nhòa những tình cảm, thiên nhiên ở chốn Seoul phải chật vật này. Từ đó, chúng ta có thể cảm nhận được rằng tác giả đã viết theo dòng cảm xúc của cá nhân mình. Nhớ đến gì thì sẽ thử hồi tưởng lại, lưu luyến gì thì sẽ khắc họa lại trong suy nghĩ. Thế nhưng không vì thế mà tác giả đem so sánh giữa hai bên, để rồi quá thất vọng về cuộc sống mình đang có. Mà phải chăng là hồi ức về những kí ức đẹp mình đã có, nổi nhung nhớ về tuổi thơ của mình. Và bên cạnh đó bà cũng đã cảm nhận được những niềm vui, nỗi buồn riêng mới của bản thân, nơi cuộc sống mới mà bà phải gắn bó.

Truyện được kể theo dòng cảm xúc của nhân vật, đi theo trình tự thời gian về những sự việc đã trải qua của nhân vật. Thế nhưng, có thể thấy một nét đặc trưng nghệ thuật nữa đó chính là tác giả kể chuyện theo cách nhìn của tuổi thơ về các sự vật, thế nhưng cách nhìn nhận vấn đề lại dường như mang dáng vấp của người đã trải đời. Đôi khi đọc những nhận xét của nhân vật về các tình huống hay về các nhân vật, chúng tôi cũng tự hỏi rằng, một đứa trẻ nào có thể nhìn nhận được vấn đề đến như vậy? Có thể suy nghĩ đến nhiều khía cạnh đến như vậy? Ngay cả bản thân mình, chúng tôi cũng không thể tự đưa ra đánh giá như thế nếu được đặt trong hoàn cảnh đó. Ban đầu, chúng tôi đã có lúc nghĩ rằng một đứa trẻ làm sao có thể suy nghĩ, đưa ra đánh giá đến như vậy, phải chăng thông qua hình tượng đứa bé kể chuyện, tác giả đã đan xen những nhận định cá nhân mình vào. Những nhận định, đánh giá của một người đã từng trải, và biết nhìn nhận lại tất cả những gì đã xảy ra với bản thân, vào đúng lúc đó nó sẽ mang ý nghĩa như thế... Truyện vừa viết theo hồi ức của một đứa trẻ nhưng đôi lúc lại suy nghĩ theo cách của người lơn. Điều này làm cho câu văn truyện vừa mang dáng dấp trẻ con nhưng lại rất thấm nhuần những từng trải của một người trưởng thành từ những quá khứ đó.

Tác giả vừa dựa vào những trí nhớ một phần nào đó đã nhạt nhòa từ lúc nhỏ của mình để kể lại những tình tiết trong truyện. Đan xen vào đó là những chi tiết tưởng tượng liên kết với các tình huống, viễn cảnh của truyện đã xảy ra trong quá khứ. Qua những chi tiết đó, phần nào đã mô tả lại được những gì trong tuổi thơ của tác giả đã phải trải qua, những kí ức tuổi thơ đẹp, những khổ cực cùng chịu với hoàn cảnh gia đình, dân tộc, thời chiến. Qua lời kể chuyện từ kí ức lúc nhỏ, những chứng kiến, đồng thời xen lẫn những tình tiết tự tưởng tượng ra, tác giả đã dẫn dắt người đọc về lại những tháng ngày của quá khứ, những cuộc sống của những con người một thời dười chứng kiến thật của tác giả. Sẽ không tránh khỏi những tình tiết hư cấu, thế nhưng truyện đã phần nào mô tả một cách sinh động cuộc sống, chuyển biến của những số phận con người thời bấy giờ ở Hàn Quốc. Những câu chuyện, những cảm nhận riêng của tác giả, đã đi sâu vào lòng người đọc, đã chạm vào được những xúc cảm, sự cảm thông, cũng như những nhận định lại về những gì đã xảy ra trong quá khứ.

Bên cạnh đó bằng giọng văn hiện thực đầy sâu sắc và tinh tế, Park Wan-suh đã khắc họa một cách rõ nét nỗi bi thương về thân phận của một con người, một gia đình với hàng loạt những diễn biến được tái hiện một cách đầy đủ với bao nỗi niềm bùi ngùi và xót xa trên bối cảnh cả dân tộc buông xuôi theo dòng chảy số phận. Những gì tươi đẹp nhất của cô bé ấy, của bầu trời mà cô bé đang hít thở, của những người thân xung quanh cô bé... còn lại chỉ là dư vị của những cây Sing-a, loài cây đã biến mất theo thời gian...

Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Park Wan-suh được “viết hoàn toàn dựa vào ký ức”, dựa trên những câu chuyện nhỏ nhặt, giản dị mà chạm đến những nơi chốn sâu thẳm nhất trong mỗi con người. Park Wan- suh đã viết “Ai đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy?” với cảm xúc chân thành của một người trải nghiệm nhiều mất mát, đau thương trong chiến tranh để nói rằng: bất cứ cuộc chiến nào cũng dẫn đến bi kịch, tang tóc... Hãy để hòa bình trên trái đất này!

IV. CẢM NHẬN VÀ LIÊN HỆ

Tác phẩm “ Ai đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy’ của tác giả Park Wan Suh thuộc thể loại tiểu thuyết từ sau giải phóng trong giai đoạn văn học cận đại Hàn Quốc. Trước tiên chúng ta cũng nhìn nhận tình hình lịch sử tại Hàn Quốc lúc bấy giờ, đó là giai đoạn thành lập ào ạt của các đảng phái chinh trị, sự tranh đoạt gay gắt quyền chủ đạo, quan hệ đối lập có tính sát phạt nhau giữa thế lực tư tưởng cánh tả và cánh hữu,…. Vì vậy, Các tiểu thuyết trong giai đoạn này phản ánh đúng hiện thực lịch sử, cụ thể tiểu thuyết khắc họa cuộc sống thảm khốc của người Hàn Quốc đương thời và sự tàn bạo của Đế quốc Nhật, tiểu thuyết phê phán hành vi của bản thân vào thời đế quốc Nhật cai trị lấy ý thức về lỗi lầm làm nền tảng, tiểu thuyết nhấn mạnh tình cảnh của “cuộc sống không có gốc rễ” của người Hàn Quốc đương thời trong khi khắc họa hình ảnh của những con người đón chào giải phóng và quay trở về cố hương, tiểu thuyết tập trung vào khắc họa hiện thực phê phán mà giới thuyến 38 bị vạch ra và nhấn mạnh cảm giác bất an, bị chia cắt. Những tác phẩm tiêu biểu như câu chuyện về đồng ruộng của Chae Man-sik, trước và sau giải phóng của Yi- tae-ju, ...

Có thể nói, truyện ‘Ai đã ăn hết những cây sing-a ngày ấy’ đã phản ánh được tất cả những vấn đề của thời đại, những mất mát đau thương của chiến tranh để lại dưới suy nghĩ của một người đã trực tiếp trải qua và chịu đựng những mất mát đau thương đó. Trong tác phẩm, bà Park Wan Suh đã từng bước từng bước cho chúng ta cảm nhận được sự thay đổi khốc liệt của số phận con người, sự thay đổi của tình ngừơi, … tất cả những điều ấy cũng bởi tội ác của chiến tranh.

Nếu ở đầu tác phẩm là những hình ảnh tuồi thơ yên bình, trong sáng nơi mảnh đất quê hương với gia đình đặc biệt là ông nội của cô bé Wan suh thì sau đó là chuỗi dài bất tận của những đau đớn, mất mát, cô đơn trong tâm hồn cô bé. Trong thời Nhật cai trị, những con người trong chính gia đình lưỡng ban của Wan suh lại chính là những người không giữ được tinh thần dân tộc, đó không phải là sự cố ý mà là tại hoàn cảnh mà ra. Cả gia đình chỉ mong cho anh hai của Wan Suh (cháu đích tôn của dòng họ) được làm việc trong phủ toàn quyền của Nhật Bản. Và khi anh Hai được làm trong đó cùng với việc chú thứ của cô được làm chân’ thư kí xã’ thì đó lại là một vinh hạnh lớn trong gia đình. Họ hoàn toàn không ý thức được nỗi đau dân tộc, không hiểu được họ đang trực tiếp hoặc gián tiếp làm tay sai cho bọn cứơp nước. Thế nhưng ông nội ( sau này đến anh của cô) đều nhất quyết không thay đổi họ của mình. Phải chăng đó là một chút gì còn lại của ý thức’ gốc rễ dân tộc’ hay chỉ đơn thuần là sự sĩ diện của một gia đình lưỡng ban cuối mùa?

Đó còn là nỗi đau khi văn hóa dân tộc đang bị mai một bởi chính sách “đồng hóa” của đế quốc Nhật. Wan suh đến trường nhưng chỉ học tiếng Nhật, cảm tạ Thiên Hoàng,... Hành động rất dã man của cô giáo khi bắt hai đôi bạn tát nhau khi kết quả học tập của lớp không như ý muốn. Chính sách cai trị khắc nghiệt của người Nhật đã biến những người dân Hàn Quốc dần trở thành một người Nhật Bản, mất dần đi bản thân mình bắt đầu từ ngôn ngữ.

Những mất mát đau thương còn được thể hiện rõ nét hơn trong cuộc chiến tranh Nam Bắc triều. Trong tác phẩm có những đoạn tác giả đã phải thốt lên trước nỗi đau của những con người cùng một dân tộc, cùng một dòng máu đang tự giết hại lẫn nhau. Những mất mát , nỗi đau bị chia cắt khi vĩ tuyến 38 được định ra. Không thiên về bất cứ đảng phái chính trị nào, tác giả đóng vai trò như môt con người rất đỗi bình thường đang bị cuộc nội chiến này xô đẩy. bởi lẽ chiến tranh dù là đúng hay sai thì cũng để lại cho những người dân những vết thương không chữa lành được. Bởi thế chúng ta càng cảm nhận được một cách thực tế những gì đang diễn ra trên đất nước này trong cuộc nội chiến. Tình thế liên tục thay đổi, cánh tả mới chiếm được Seoul vài ngày thì cảnh hữu đã chiếm chính quyền lại. Xã hội mà số phận, nhân quyền chỉ được công nhân qua ‘ thẻ thị dân’, những ngừơi dân vô tôi như anh của cô bị buộc đi quân dịch, những con người ngày hôm trước còn là hàng xóm không phân biệt con nhà nào thì nay lại đi tố cáo nhau để được lòng chính quyền. Cuộc đời con người bị đẩy đưa theo tình hình chiến trận, vô định. Có thể nói nỗi đau này được miêu tả rõ nét trong cảnh di tản của gia đình Wan Suh. Cuộc sống gia đình cô cũng bấp bênh, không biết ngày mai giống như những lần chuyển nhà.

Nỗi đau của chiến tranh không chỉ là nỗi đau chung mà nó ăn hằn sâu vào mỗi cá nhân. Chiến tranh đã làm biến chất, tha hóa con người. Tiêu biểu là Anh trai của Wan suh. Đầu câu truyện chúng ta có thể thấy người anh được khắc họa đầy tự hào: một con người ít nói, nhã nhặn nhưng cũng rất cương quyết khi quyết tâm không thay đổi họ, bảo vệ đến cùng lợi ích của người khác trong xã hội mà người ta chỉ con biết nghĩ đến bản thân mình. Thế nhưng vì chiến tranh, bởi nỗi sợ hãi đã biến anh cô thành một kẻ hèn nhát, đầy lo sợ, đánh mất bản thân mình. Chiến tranh cũg đã cướp đi của mẹ wan suh rất nhiều thứ. Nỗi đau lớn nhất có lẽ là nỗi đau khi chứng kiến sự tha hóa, hèn nhát của con trai mình. Không những vậy chiến tranh còn làm mất đi của bà từng ứoc mơ một cho đến uớc mơ nhỏ nhất là có một cuộc sống yên bình nơi làng quê, có ruộng vườn để cày cấy. Và ngừơi chịu nhiều sự đau khổ nhất có thể nói là wan suh. Chiến tranh đã cướp mất của cô cuộc sống bình yên, tương lai, người chú bị xử tử hình vô cớ, những lời lăng mạ nhục nhã ,…

Qua tác phẩm, qua những nỗi đau mà các nhân vật phải chịu đựng, từ đó chúng ta có thể cảm nhận một cách sâu sắc những vết thương chiến tranh trong tâm hồn của người Hàn Quốc. Nỗi đau của một dân tộc bị mất nước, nhưng đau hơn không phải chỉ là sự mất mát về lãnh thổ quốc gia trên bản đồ thế giới mà quan trong hơn là sự đánh mất đi chính bản thân mình, chính nền văn hóa của mình hay nói cách khác là sự bỏ quên gốc rễ. Trong giai đọan bị đế quốc Nhật cai trị nền văn hóa, ngôn ngữ Hàn Quốc bị mất đi một cách vô ý thức. Nỗi đau, dằn vặt này kéo dài cho đến tận mãi về sau, người Hàn Quốc vẫn không thể nào tha thứ cho tội ác của nước Nhật trên đất nước họ. Dù bây giờ Hàn và Nhật đã bình thường hóa quan hệ, hai nước hợp tác mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực thế nhưng thiết nghĩ những vết thương chiến tranh mà người Nhật để lại cho dân tộc Hàn vẫn con mãi. Chính vết thương đó đã biến thành động lực cho người Hàn luôn vươn lên phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vượt trên Nhật. Là công dân của một dân tộc cũng đã từng trải qua những cuộc chiến tranh ác liệt, hơn ai hết chúng ta hiểu rõ nỗi đau, những vết thương chiến tranh khi đất nước bị giặc ngoại xâm xâm lược. Thế nhưng, có lẽ người Việt nam chúng ta không thể nào hiểu hết được nỗi đau của nội chiến- cuộc chiến tranh của những con người trên một dân tộc. Dù lãnh thổ có thể dễ dàng cách li bởi vĩ tuyến 38 nhưng không người Hàn Quốc hay Triều Tiên nào có thể phủ nhận được họ là những con người cùng dòng máu, cùng một nguồn gốc sinh ra. Có những con người ngày hôm qua còn là bạn bè thâm giao hôm sau đã trở thành người của hai đầu chiến tuyến. Quả thật không có nỗi đau nào bằng nỗi đau của an hem cùng một dân tộc lại đang chém giết, sát phạt lẫn nhau. Sự khác biệt về tư tưởng chính trị, sự can thiệp của nước khác, sự đối lập của hai chính quyền đã đẩy những người dân thương vô tội vào cảnh chia cắt, chiến tranh. Ở đây, chúng ta không phân tích bên nào đúng bên nào sai mà chỉ nhìn nhận ở góc độ những vết thương chiên tranh con ở lại mãi mãi nơi tâm hồn người Hàn Quốc. Nỗi dau này có lẽ đến ngày hôm nay vẫn còn là nỗi đau day dứt của mỗi con người Hàn Quốc khát khao thống nhất đất nước, khát khao hòa bình.

Giống như Hàn Quốc,dân tộc Việt Nam chúng ta cũng trải qua hai cuộc chiến tranh lớn, chống Pháp và chống Mỹ. Văn học chiến tranh của Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng, không chỉ có những sáng tác ngay trong cuộc chiến mà ngay cả khi hòa bình đề tài về chiến tranh cũng thu hút được nhiều cây bút tham gia. Cụ thể, theo PGS, TS Đỗ Lai Thúy thì “ Dòng chủ đạo của văn học Cách mạng thời kỳ 1945-1975 là viết về người chiến sĩ và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Nhân vật văn học ở thời kỳ 1945-1975 là công nông binh và đối tượng để văn học hướng tới cũng là đại chúng công nông binh. Cho nên, nhiệm vụ của văn học được xác định ngay từ đầu là phải phản ánh công cuộc kháng chiến và hoạt động chiến đấu của người chiến sĩ; qua đó để tuyên truyền làm thay đổi nhận thức cho người đọc. Chẳng hạn, Tô Hoài viết “Truyện Tây Bắc” (1954) là để cho mọi người biết đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc đã đánh Pháp như thế nào và góp phần gây dựng tình đoàn kết, cổ vũ mọi người chống giặc ngoại xâm.”, Những tác phẩm văn học này chủ yếu mang tính cổ động tình thần các chiến sĩ trước cuộc chiến gian nan mà ít chủ ý đến các yếu tố nghệ thuật. Những tác phẩm thể hiện rõ nét nỗi đau, mất mát, day dứt do chiến tranh để lại chủ yếu được sáng tác sau khi đất nước được giải phóng ( sau năm 1975). Bởi lẽ khi hòa bình lập lại người ta sẽ có thời gian nhìn nhận, suy xét mà cảm nhận vết thương chiến tranh này. Đó có thể là nỗi đau của một chiến sĩ đã trải qua cuộc chiến tranh khốc liệt và khi hòa bình lập lại về quê hương nhưng những người thân xưa của anh không còn ai, đó có thể là nỗi khoắc khoải của người chiến sĩ duy nhất còn trở về khi những đồng đội đều đã nằm lại nơi chiến trường, hoặc cũng có thể là nỗi đau day dứt của những người lính ngụy, hoặc có những vấn đề mà chỉ sau khi chiến tranh kết thúc người ta mới bình tâm mà suy xét.

Những tác phẩm tiêu biểu trong cuộc chiến như: truyện ngắn vợ nhặt của Kim Lân được tác giả viết ngay sau cuộc cách mạng tháng 8/1945.Truyện được khơi nguồn cảm xúc từ nạn đói khiến hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra. Qua tác phẩm chúng ta cảm nhận được nỗi thống khổ của người dân dưới ách áp bức bót lộc của Pháp , Nhật. Nhưng vựơt qua tất cả cuộc sống thống khổ ấy là tình người ( Tràng cưu mang một người phụ nữ trong khi chưa lo nỗi bản thân mình), ước mơ hạnh phúc của những con người nhỏ bé( nên duyên vợ chồng ngay giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt) và trên hết là niềm tin của người dân về chiến thắng của dân tộc, dù cuộc sống khổ cực nhưng họ vẫn không thôi ước mơ và hi vọng. Truyện ngắn Chiếc Lược Ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng nằm trong những tác phẩm văn học chiến tranh được viết ngay trong cuộc chiến. Tác phẩm nhẹ nhàng mà sâu sắc, kể về tình cảm cha con sâu sắc của cha con ông Sáu ngay những năm tháng éo le của cuộc chiến tranh. Chính cuộc chiến tranh đã làm những người thân phải chia lìa. Nhưng nổi bật lên là tình cha con tha thiết. Người cha đến lúc hi sinh vẫn giữ trên tay chiếc lược ngà làm để một ngày nào đó tặng cho con gái mình. thế nhưng bởi chiến tranh đã cướp đi sinh mạng của ông, đứa con không được nhận món quà từ chính tay cha mình. Bởi tình cảm cha con sâu sắc đã biến thành động lực cho cô bé tiếp nối con đường của cha, tham gia cách mạng. Tình cảm gia đình đã được nâng lên thành tình yêu quê hương, đất nước. Qua hai tác phẩm trên ta thấy được những tác phẩm giai đoạn này phản ánh hiện thực đời sống ực khổ của người dân trong chiến tranh, những mất mát do chiến tranh gây ra thế nhưng điều mà các tác giả muốn thể hiện là niềm tin con người, là tình người cao đẹp giữa những năm khói lửa chiến tranh.

Tiêu biểu các tác phẩm sau giải phóng có thể nói đến tiểu thuyết ‘ nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh. Có thể nói Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là một tác phẩm có số phận đặc biệt. Người ta khi nói đến chiến tranh thường dùng từ “đau“, hiếm ai dùng từ “buồn“, cảm giác đau đớn rồi sẽ qua đi, thời gian sẽ chữa lành tất cả, chỉ nỗi buồn miên man thì sẽ còn lại mãi, song hành cùng ký ức, trở thành chính tâm hồn con người. Independent, một trong những nhật báo có uy tín của nước Anh đã nhận xét về cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh : “Vượt ra ngoài sức tuởng tượng của người Mỹ, Nỗi buồn chiến tranh đi ra từ chiến tranh Việt Nam đã đứng ngang hàng với cuốn tiểu thuyết chiến tranh vĩ đại của thế kỷ, Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh của Erich Maria Remarque(…). Một cuốn sách viết về sự mất mát của tuổi trẻ, cái đẹp, một câu chuyện tình đau đớn…một thành quả lao động tuyệt đẹp”. tác phẩm được mở đầu bằng hình ảnh nhân vật chính – Kiên – ngủ lại trên thùng xe chứa đầy hài cốt tử sĩ sau một ngày anh cùng đội tìm kiếm hài cốt lùng sục khắp nơi xưa kia là chiến trường ác liệt mà chính anh tham gia. Trong đêm ấy, cả khi ngủ cũng như khi thức, những mộng mị từ ký ức vẫn chập chờn, vây quyện lấy anh. Từng bước, ký ức của Kiên dẫn người đọc quay về năm tháng chiến tranh khi anh còn là lính trinh sát, bên cạnh bao đồng đội trẻ trung sôi nổi… Rồi máu, rồi mất mát, những thứ kinh điển của một câu chuyện kể về chiến tranh sẽ len dần vào câu chữ, không chút bất ngờ, không bằng một thủ pháp kể chuyện ấn tượng nào. Tất cả đều chỉ là lời tường thuật bình dị, chân thành và đơn giản…

LỜI KẾT

Hàn Quốc và Việt Nam, dù mỗi dân tộc trải qua những thăng trầm lịch sử khác nhau, trải qua những cuộc chiến tranh khác nhau, có những nỗi đau khác nhau nhưng tất cả đều cùng mang những vết thương, chịu đựng nhữgn mất mát chiến tranh. Văn học chiến tranh của hai dân tộc đã thể hiện rỏ được nỗi đau này. Những kí ức về chiến tranh có lẽ cũng đã phần nào nguôi ngoai nhưng vết thương mà chiến tranh để lại trong tâm hồn con người thì vẫn còn mãi theo thời gian, mà mỗi khi nghĩ lại làm người ta bồi hồi, day dứt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. http://tamhoc.com/2012/12/tieu-thuyet-noi-buon-chien-tranh-cua-bao-ninh/

2. PGS.TS Đỗ Lai ThúyBài viết “Vài ý‎ nghĩ về mảng văn học chiến tranh Cách mạng và người chiến sĩ”

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/75/72/6/33/33/213288/Default.aspx

3. http://kenhsinhvien.net/forum/topic/21953-dang-doc-noi-buon-chien-tranh-bao-ninh-than-phan-cua-tinh-yeu/

4. Những bài giảng văn học Hàn Quốc”, Trần Thị Bích Phương dịch, Nhà xuất bản văn học

5. Hoàng Mai (2012), Ai đã ăn hết những cây Sing-a ngày ấy?, Báo Phụ nữ, số ra ngày 10/7/2012

6. (2007), 국어교육학 석사학위 논문 박완서 소설 연구-자서전적 소설과 전쟁 체험 소설 중심으로”, -

7. 윤혜진 (2012),”박완서 소설의 교과서 수록 양상과 교육적 의의”, 고려 대학교 교육 대학원, 국어교육 전공, 2012 1 6

8. 박완서 소설 연구- & 박완서 소설과 비평: 공감과 해석의 논리-이선미 (Choi Hee Suk -Nghiên cứu về tiểu thuyết của Park Wan Suk, Lee Seon Mi – Bàn luận về tiểu thuyết của Park Wan Suk)

9. Thảo Yên - Chiến tranh làm con người khắc khoải nỗi đau (Thứ tư, 02/05/2012) http://www.baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=78&id=103963


{ Hãy nhập thông tin bình luận bài viết này }
 
Do Thi Trang Thanh đã offline
 #1  
Thành viên đang xem
Có 1 người dùng đang xem (1 khách)
Trang chủ » HÀN QUỐC & HÀN QUỐC HỌC » Nghiên cứu văn học – ngôn ngữ » PHÂN TÍCH TIỂU THUYẾT ' AI ĐÃ ĂN HẾT CÂY SING-A NGÀY ẤY CỦA TÁC GIẢ PARK WANG SUH- NHÓM THUYẾT TRÌNH LỚP HÀN 1-09
Di chuyển nhanh:  
Có bài mới Có bài mới Không có bài mới Không có bài mới
Có bài mới (Đã khóa) Có bài mới (Đã khóa) Không có bài mới (Đã khóa) Không có bài mới (Đã khóa)
Thông báo Thông báo Chú ý Chú ý
Đã chuyển Đã chuyển Bình chọn Bình chọn
Bạn không thể gửi bài viết mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xóa bài viết của bạn
Bạn không thể chỉnh sửa bài viết của bạn
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn có thể bình chọn
Giờ hiện tại: 10:42 AM - GMT + 7

phim nhat ban|sửa chữa nhà hà nội|phim an do