Chào bạn Trang chủ | Tìm kiếm | Bài viết mới | Thành viên | Đăng ký | Đăng nhập |

Trang chủ » HÀN QUỐC & HÀN QUỐC HỌC » Nghiên cứu văn học – ngôn ngữ » thần thoại hàn quốc- nhóm phản biện. lớp hàn 1-09
thần thoại hàn quốc- nhóm phản biện. lớp hàn 1-09  
Chủ đề trước · Chủ đề tiếp theo
Do Thi Trang Thanh
6/5/2013 9:01:56 AM
Lơ tơ mơ

Cấp bậc: SINH VIÊN

Tham gia: 19/9/2012
Bài viết: 7
Đến từ: Hàn 1-09, Hàn Quốc học, trường xã hội nhân văn

Đánh giá: [0]

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BỘ MÔN HÀN QUỐC HỌC

cd

Description: Description: 20110830_100128.png

ĐỀ TÀI

THẦN THOẠI HÀN QUỐC

GVBM: PGS.TS Phan Thu Hiền

Nhóm phản biện: Hàn 1/09

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 02 năm 2013

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN T.P HỒ CHÍ MINH

BỘ MÔN HÀN QUỐC HỌC

c d

Description: Description: 20110830_100128.png

ĐỀ TÀI

THẦN THOẠI HÀN QUỐC

GVBM: PGS.TS Phan Thu Hiền

Nhóm phản biện: Hàn 1/09

1. Trần Thoại Nhã Đan 0956110043

2. Huỳnh Kim Ngân 0956110136

3. Đỗ Thị Thúy Phuợng 0956110189

4. Đỗ Thị Trang Thanh 0956110205

5. La Anh Thư 0956110230

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 02 năm 2013

MỤC LỤC

I. THẦN THOẠI “CẬU BÉ TRÁNG SĨ”.................................................................................... 6

1. Tóm tắt nội dung ................................................................................................................................................................. 6

2. Phân tích truyện “Cậu bé tráng sĩ”................................................................................................................................. 7

2.1. Nỗi oán hận “” (han) trong truyện................................................................................................................... 7

2.1.1. Nỗi oán hận thứ nhất....................................................................................................................................... 7

2.1.2. Nỗi oán hận thứ hai ......................................................................................................................................... 7

2.2. So sánh với truyện “Thánh Gióng” của Việt Nam............................................................................................ 8

2.2.1. Giống nhau........................................................................................................................................................ 8

2.2.2. Khác nhau.......................................................................................................................................................... 8

II. THẦN THOẠI “THÁP ANH EM”.......................................................................................... 9

1. Tóm tắt truyện..................................................................................................................................................................... 9

2. Phân tích truyện................................................................................................................................................................ 10

2.1. Nỗi oán hận “” (han) trong truyện................................................................................................................. 10

2.2. So sánh với thần thoại Việt Nam......................................................................................................................... 12

III. THẦN THOẠI “SAO TAM THÁI”...................................................................................... 14

1. Tóm tắt truyện................................................................................................................................................................... 14

2. Phân tích truyện................................................................................................................................................................. 14

2.1. Lý giải nguồn gốc, ý nghĩa của câu chuyện............................................................................................................ 14

2.2. So sánh với thần thoại Việt Nam ......................................................................................................................... 16

2.2.1. Thần thoại của người Chăm....................................................................................................................... 16

2.2.2. Truyện “Gấu ăn trăng” ............................................................................................................................... 16

IV. Ý NGHĨA .................................................................................................... 19


Thần thoại là sáng tạo của trí tưởng tượng tập thể toàn dân, phản ánh khái quát hóa hiện thực dưới dạng những vị thần được nhân cách hóa hoặc những sinh thể có linh hồn, mà dù đặc biệt, phi thường đến mấy vẫn được đầu óc người nguyên thủy nghĩ và tin là hoàn toàn có thực.

Tuy thần thoại tồn tại như những truyện kể về thế gian, nhưng nó không hẳn là một thể loại ngôn từ, mà là những ý niệm biểu tượng nhất định về thế giới. Bên cạnh đó, cảm quan thần thoại nói chung không chỉ bộc lộ bằng truyện kể mà còn bộc lộ trong những hình thức khác như hành động (nghi lễ, lễ thức, điều răn dạy), các bài ca, vũ điệu

Đặc điểm của thần thoại thể hiện rõ nhất trong văn hóa nguyên thủy, nơi mà vị trí của thần thoại trong tâm thức cộng đồng có thể coi tương đương với "văn hóa tinh thần" hay "khoa học" của thời cận, hiện đại.

Trong đời sống của các cộng đồng người nguyên thủy, thần thoại là một hệ thống mà nhờ nó, con người tri giác và mô tả thế giới bằng các biểu tượng của hệ thống ấy. Do đó, có thể coi thần thoại là ý thức nguyên hợp của xã hội nguyên thủy. Tiến trình lịch sử về sau, dù đã phân chia thần thoại thành các hình thái ý thức xã hội khác như tôn giáo, nghệ thuật, văn học, khoa học, tư tưởng chính trị v.v., thì các hình thái ấy vẫn bảo lưu trong chúng hàng loạt mô hình thần thoại, được cơ cấu, tái chế để đưa vào các cấu trúc mới.

Thần thoại khá gần gũi với văn học khi cả hai đều có tính hình tượng trong nội dung. Tuy vậy, thần thoại mang tính hình tượng một cách vô ý thức, khác biệt với những sáng tác văn học. Thần thoại, với tất cả tính nguyên hợp tư tưởng của nó trong tư duy nguyên thủy, chẳng những là thi ca nguyên thủy mà còn là tôn giáo nguyên thủy, triết học nguyên thủy, khoa học nguyên thủy…

Nhìn chung, thần thoại là khái niệm thuộc phạm trù văn hoá, ra đời từ buổi khai sinh của loài người và đến nay vẫn tồn tại. Một cách tự nhiên, thần thoại đã tạo thành dòng chảy xuyên suốt và bất tận, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Có nhiều cách hiểu khác nhau về thần thoại. Từ cách tiếp cận của mình, chúng tôi quan niệm: thần thoại là những câu chuyện kỳ lạ, hoang đường nhằm giải thích hiện tượng có tính chất bí ẩn, sâu xa thuộc về tự nhiên, xã hội và con người.

I. THẦN THOẠI “CẬU BÉ TRÁNG SĨ”

1. Tóm tắt nội dung

Ngày xưa, một gia đình bình thường nọ sinh được một cậu con trai, thế nhưng, khi vừa được sinh ra cậu bé đã có cánh và ngay lập tức trở thành tráng sĩ biết bay và có sức mạnh phi thường. Bố mẹ cậu bé nghĩ rằng nếu tráng sĩ này lớn lên sẽ trở thành nghịch tặc, gây hại đến người trong nhà. Vì thế họ đã lấy đá đè, giết chết cậu bé. Khi cậu bé chết, theo lời dặn trước khi chết thì cậu bé đã đươc chôn cùng với đậu quyên và đậu đỏ. Không lâu sau đó, quan quân đến để tìm cậu bé tráng sĩ, theo lời khai thật của bố mẹ cậu bé, họ đến ngôi mộ tìm thì thấy rằng đậu đen đã trở thành con ngựa, và đậu đỏ đã trở thành một người quân sĩ. Và sau đó, quan quân đã giết người quân sĩ, con ngựa chiến cũng vừa khóc vừa loay hoay tìm chủ nhân, rồi chết theo.

Một câu chuyện khác, ngày xưa ở làng Mun Chon, Chu Yeob Dong, một cậu bé được sinh ra với một cái cánh kì lạ mọc ra từ nách. Ngày cậu bé ra đời, cây Nu Thi ở trước làng đã 500 năm nay, bỗng giật mình bởi tiếng khóc của đứa bé, tiếng khóc lớn của đứa bé làm người dân trong làng chói tai trong tận vài ngày. Đứa bé lúc lên 5 tuổi đã leo lên núi, rồi tiểu tiện lên tảng đá. Dấu tiểu tiện bị khắc lên đá, vì xấu hổ nên cậu bé đã lấy ngón chân đè lên. Lúc đó đã để lại dấu chân lên tảng đá.

Từ sau đó, người dân trong làng đã gọi cậu bé này là “cậu bé tráng sĩ”. Cậu bé tráng sĩ thường leo lên núi và chơi với năm con ngựa đang sống ở đó. Những con ngựa này luôn luôn chăm sóc cậu bé, để sau này khi cậu bé lớn lên có thể cưởi và đua ngựa.

Rồi vào một ngày, để xâm lược Chosun, quân gián điệp bên ngoài đã gửi do thám đến và biết đến chuyện về cậu bé tráng sĩ. Những kẻ đó sợ hãi về sức mạnh của cậu bé trong tương lai, nên sau khi dụ dỗ và đợi cậu bé ngủ, bọn chúng đã cắt đứt hai đôi cánh đi. Mà hai đôi cánh chính là sức mạnh của cậu bé, vì thế sự thông minh của cậu bé biến mất, và trở thành một thằng ngốc với cái miệng chảy nước bọt.

Cậu bé tráng sĩ trở nên đần độn, đó luôn luôn là sự ngạc nhiên của người xung quanh. Và rồi một ngày nào đó, cậu ấy đã biến mất. Sau khi cậu bé biến mất, năm con ngựa sau làng cũng đập đầu vào trên tảng đá và cũng chết theo. Sau đó, một thần thoại đã được truyền nhau về một tráng sĩ ngốc sống ở nơi này đã xuất hiện tìm người dân trong làng và đã hi sinh một cách rất bi thảm.

2. Phân tích truyện “Cậu bé tráng sĩ”

2.1. Nỗi oán hận “” (han) trong truyện

2.1.1. Nỗi oán hận thứ nhất

Đứa trẻ mang sức mạnh phi thường ngay khi được sinh ra đã bị giết chết bởi bố mẹ của nó. Cái chết của cậu bé tráng sĩ mang một ý nghĩa sâu sắc, khi nó chưa kịp dùng năng lực bẫm sinh của mình để thực hiện ước mơ mà đã bị giết chết. Điều đặc biệt là Cậu bé tráng sĩ bị giết bởi chính bố mẹ ruột của mình, là người thân gần gũi nhất. Đây được coi như là nỗi oán hận thứ nhất trong câu chuyện. Bố mẹ cậu bé tráng sĩ không những không hướng dẫn, tạo cơ hội cho con của họ phát huy năng lực siêu nhiên bẩm sinh để làm những việc tốt giúp ích cho gia đình, làng xóm, đất nước mà họ sợ cậu bé sẽ mang lại tai họa cho gia đình nên đã lấy đá đè chết con mình. Với những người làm cha làm mẹ thì việc này khó mà chấp nhận được. Và có lẽ cậu bé cũng không thể nào hiểu cho bố mẹ mình và oán hận tại sao chưa dạy dỗ mà đã giết chết mình.

2.1.2. Nỗi oán hận thứ hai

Cậu bé tráng sĩ sau khi chết được chôn cất với hai hạt đậu đen và đậu đỏ. Khi quân lính đến ngôi mộ của tráng sĩ thì lúc đó hạt đậu đen đã biến thành con ngựa chiến và hạt đậu đỏ trở thành một người quân sĩ. Chi tiết này cho thấy khát vọng sống, khát vọng được phát huy tài năng của cậu bé tráng sĩ, mặc dù đã chết nhưng cậu bé tráng sĩ ôm trong mình nỗi hận cha mẹ đã giết chết mình, cùng với khát khao sinh tồn nên đã hóa thân mình vào hai hạt đậu, một trở thành con ngựa chiến và một trở thành quân sĩ. Thế nhưng một lần nữa cái khát vọng sống và phát huy tài năng ấy lại bị vùi dập. Quân lính đã giết người quân sĩ, sau đó con ngựa chiến cũng chết đi khi đi tìm chủ nhân của nó. Ước mơ của cậu bé tráng sĩ kết cuộc cũng không thể thực hiện được, đây chính là nỗi oán hận thứ hai. Hai lần bị giết chứng tỏ năng lực của cậu bé tráng sĩ không được mọi người chấp nhận lúc bấy giờ, mặc kệ sự tha thiết được sống và ước mơ của cậu bé. Xã hội đã chối từ một tài năng mà bị coi là một hiểm họa mai này.

2.2. So sánh với truyện “Thánh Gióng” của Việt Nam

2.2.1. Giống nhau

Thông qua tìm hiểu và phân tích truyện “Cậu bé tráng sĩ”, chúng tôi nhận thấy có phần nào tương đồng với “Thánh Gióng” của Việt Nam, tuy nhiên nét tương đồng đó không lớn. Đó là ngay khi được sinh ra thì cả cậu bé tráng sĩ và Gióng đều có những năng lực hơn người. Trong khi cậu bé tráng sĩ có thêm đôi cánh thì Gióng lại có sức mạnh phi thường.

2.2.2. Khác nhau

Trong truyện “Cậu bé tráng sĩ” thì cậu bé đã bị bố mẹ giết chết và đến lần hồi sinh thứ hai cũng bị quan quân giết chết, không có cơ hội để phát huy tài năng.

Còn đối với truyện “Thánh Gióng” thì ngược lại, ngay từ khi sinh ra, Gióng luôn được bố mẹ thương yêu chăm sóc và khi lớn lên thì được dân làng và vua quan hỗ trợ hết mình để đánh đuổi giặc Ân (dân làng góp gạo để nuôi Gióng, triều đình ban cho Gióng roi sắt, áo giáp sắt, ngựa sắt để đánh giặc).


II. THẦN THOẠI “THÁP ANH EM”

Description: Description: http://www.thefestival.co.kr/upfile/img/2011/09/shane_1316347538.jpg“Tháp Anh Em” là thần thoại về sự ra đời của tháp đôi cách Donghaksa 2km về phía Bắc. Tháp này còn được gọi tên là “tháp đôi lương thiện”. Khi nhìn cấu trúc của tháp này, ta có thể đoán nó tồn tại vào thời Silla thống nhất. Theo đó, trong thần thoại này nhân vật có mang một phần yếu tố lịch sử. Trong cuộc chiến trong thời tam quốc một vị vua của nước Baekjae vì thua quân đồng minh, nên đã lên núi Gyeryongsan xây chùa và sống cuộc đời ẩn dật.

1. Tóm tắt truyện

Một người thuộc hoàng tộc thời Baekjae thời bại vong vì sự liên minh của quân nhà Đường đã lên núi Gyeryong đi tu. Nhà sư quên đi tất cả những gì đã qua, tôn kính đức Phật, sống phần còn lại của cuộc đời của mình để mỗi ngày cúng Phật. Rồi như thế, vào giữa một mùa đông, tuyết đã rơi rất nhiều. Một ngày nọ, nhà sư đang ngòi thiền thì bỗng nghe phía bên ngoài có tiếng khóc lớn của một con vật nào đó.
Nhà sư đi ra ngoài xem thử thì thấy một con hổ khoảng như con bò đang há miệng ra như đang rất đau đớn hay lo lắng gì đó. Nhà sư lại gần, thấy con hổ vì săn mồi ăn nên đã bị xương sườn mắc ở cổ, không thể làm gì hết nên đang rất đau. Nhà sư đã nói với con hổ rằng “Chính vì nhà người đã sát sinh nên mới bị đau đớn như thế này đó”, vừa nói người vừa đưa tay vào trong cổ con hổ lấy miếng xương ra. Con hổ đã làm điệu bộ như cảm ơn rồi chạy vào trong rừng biến mất.

Sau đó, trong một thời gian dài nhà sư đã không thấy con hổ đâu hết, nên đôi lúc nhà sư đã đi hỏi heo rừng và hỏi cả những con nai. Sau khi hỏi các con vật về con hổ, nhà sư đã mắng con hô rất to rằng “Ta đã nói là đừng có sát sinh đến như thế nữa mà lại sát sinh thêm nữa à?”. Và rồi một vài ngày sau đó, trong một đêm nọ, nhà sư đang cúng phật thì đột nhiên nghe tiếng kêu ở bên ngoài. Nhà sư đi ra để nhìn xem thử có chuyện gì. Dưới ánh trăng sáng rọi là một cô gái tuổi thanh xuân duyên dáng. Nhà sư thấy cô gái xuất hiện với đầu tóc giống như thiếu nữ chuẩn bị về nhà chồng.

Tại sao thiếu nữ này lại xuất hiện ở đây vào đêm khuya này chứ?, nhà sư vừa nghi ngờ, vừa chân thành chu đáo mời thiếu nữ đó vào. Nhà sư hỏi thiếu nữ tại sao lại đến đây vào đêm khuya này “Thí chủ tại sao lại đến một nơi trong rừng này vào đêm khuya cơ chứ?”. Thiếu nữ đó vừa run bởi nghe lời hỏi, vừ sợ nên đã khóc. “Tiểu nữ là người sống ở tỉnh Kyeong Sang, đến tuổi đi lấy chồng nên đã được gã vào nhà một Yangban trong làng. Nhưng trước đêm đầu tiên, tiểu nữ định đi vệ sinh nên đã ra ngoài, rồi đột nhiên thấy một con hổ cỡ con bò đang chịu đựng phía trước. Sau đó đã bị hồn phi phách tán, không nhớ gì được hết. Và lúc mở mắt ra thì đã thấy mình ở đây rồi”. Nhà sư bảo thiếu nữ hãy về lại quê hương, nhưng thiếu nữ lại thỉnh hôn lại rằng “Nhà sư đã tìm thấy tiểu nữ nên tiểu nữ sẽ ở lại để chăm sóc cuộc sống ở đây”. Nhưng nhà sư từ chối rằng ông là phật tử nên không thể mà kết hôn được. Nếu thử nữ không về quê được thì xem như anh em cùng sống với nhau. Họ tiếp tục cuộc sống tu hành và đến cuối đời họ được về với cõi niết bàn ...

Để hậu thế biết được và tôn vinh những hành động đẹp của hai người này, người ta đã chất thành hai ngọn tháp và gọi tên là Tháp Anh Em.

2. Phân tích truyện

2.1. Nỗi oán hận “” (han) trong truyện

Có thể nói trong văn học cũng như cuộc sống của người Hàn Quốc, chữ “han” được thể hiện một cách rõ nét. “Han” hay “원한” (won han-oán hận), bản thân trong sự hình thành và phát triển của nó đã bao gồm hai mặt, bị hận thù và hận thù. Trong đó, bị hận thù là do người khác tác động, còn hận thù có nguyên nhân từ bản thân mình. Đó có thể là nỗi hận thù người khác, chế độ xã hội hoặc hoàn cảnh bởi không đạt được những khát vọng của mình. Sự thất vọng đó có trường hợp là sự thất bại trong cuộc sống mình hoặc trường hợp cuộc sống bị đổ vỡ bởi sự tác động của người khác. Trường hợp những vết thương nỗi đau người khác gây ra cho mình gọi là thasang; vết thương, nỗi đau do chính mình gây ra trường hợp này gọi là sasang. Nhưng không phải tất cả những trường hợp này đều có thể phát sinh nỗi hận thù.

Trong vấn đề này quan trọng là thái độ của những người bị những điều kiện trên tác động. Dĩ nhiên trước những điều kiện đó những tư tưởng oán hận, thất vọng, phẫn nộ, lời nguyền trả thù là điều không thể tránh khỏi. Nỗi hận thù sẽ hình thành khi con người không quên đi mà cố chấp lưu giữ những cảm xúc ấy.

Chữ “han” được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm văn học Hàn Quốc. Từ văn học truyền thống đến hiện đại, từ thơ ca đến tiểu thuyết. Không chỉ thể hiện bằng mối hận thù, nỗi đau,..mà con là sự chờ đợi, tình yêu thương.

Chữ “ han” trong tính cách người Hàn Quốc. “Han” là tình cảm đau buồn của con người. Trung Quốc và Nhật Bản không có chữ “han” mà chỉ có “won”. Các nước Phương Tây cũng vậy, từ gần nghĩa với “won” và “han” trong tiếng anh là “regret” và “resentment”. Nhưng mà ý nghĩa rất khác nhau, từ “resentment” gần nghĩa với “분개 (bunkae-phẫn nộ) hơn là “won han”. Vậy, nguồn gốc “han” trong con người Hàn Quốc là gì?

Thứ nhất, do lịch sử đầy sóng gió, trong các cuộc nội chiến và xâm lăng được hình thành bởi cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân. Vì vậy, so với các dân tộc khác người Hàn hay cảm thấy cô đơn, buồn bã hơn.

Thứ hai, có thể suy nghĩ đến ảnh hưởng quan trọng của nho giáo.

Thứ ba, do anh hưởng của tư tưởng trọng nam khinh nữ dẫn tới nam giới oán giận phụ nữ làm hình thành “ 여한”.

Thứ tư, mối quan hệ của giới quý tộc bóc lột và người dân bị bóc lột càng trở nên nặng nề, làm những người nghèo nhận ra được lòng tham của giới quy tộc với bản thân mình.

Trong thần thoại “Tháp anh em”, nỗi oán hận “han” cũng được thể hiện rõ ràng. Nhà sư là hiện thân của người hiền lành (vốn dĩ đã là vua của nước Baekjae), có đầy đủ đức tính của một bậc hiền tài. Ông một lòng hướng phật, dù có nhiều cạm bẫy quanh mình nhưng ông không vị phạm nguyên tắc của đạo Phật. Thiết nghĩ, ông chính là mơ ước của người dân về một thánh nhân chuyên giúp đỡ cho mọi người. Mặt khác, xây dựng hình tượng con hổ cũng là dụng ý thể hiện nỗi oán hận của người Hàn Quốc. Con hổ xưa nay là chúa tể sơn lâm, có sức mạnh không ai bằng. Thế nhưng, người Hàn đã biến hình ảnh con hổ uy nghi đó bị nhà sư khuất phục, con hổ trở nên tôn kinh với nhà sư như một ân nhân cứu mạng của mình. Từ đó, hình ảnh nhà sư đại diện cho những con người lương thiện đã trở thành một bậc thánh nhân mà ngay cả chúa tể sơn lâm cũng phải cúi mình tôn kính.

2.2. So sánh với thần thoại Việt Nam

Trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam cũng có những câu chuyện có nội dung tương tự như thần thoại “Tháp anh em”.

Đầu tiên, phải nói đến những thần thoại về các tháp cổ Việt Nam. Tiêu biểu, ta có thể nói đến là thần thoại về tháp Bà Ponagar (Nha Trang). Thần thoại về Tháp Bà có nội dung chính nói về hai vợ chồng tiều phu đến cất nhà và làm rẫy trồng dưa nơi triền núi. Suốt một thời gian dài, hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất. Ông lão rình và một hôm bắt gặp một cô bé khoảng 9-10 tuổi hái dưa rồi chơi đùa dưới trăng. Thấy cô bé dễ thương, ông bèn đem về nuôi và thương yêu như con ruột. Hôm đó, trời mưa to gió lớn, cảnh vật tiêu điều buồn bã, cô bé lấy đá chất thành ba hòn dã sơn và hái hoa lá cắm vào rồi đứng ngắm làm vui. Cho rằng hành vi của con không hợp với khuê tắc, ông tiều lớn tiếng rầy la. Không ngờ cô bé là tiên giáng trần buồn nhớ cảnh bồng lai. Đang buồn lại chợt nhìn thấy một khúc kỳ nam theo nước trôi đến, thiều nữ bèn hiến thân vào khúc kỳ nam cho sóng đưa đẩy. Khúc kỳ nam trôi ra biển rồi tấp vào nơi gần cung đình, hương tỏa ngào ngạt. Người dân trong vùng lấy làm lạ kéo đến xem. Thấy gỗ tốt, họ bèn xúm vào khiêng, nhưng người đông bao nhiêu cũng không khiêng nổi. Thái tử Bắc Hải nghe tin đồn bèn tìm đến xem hư thực và giơ tay nhấc thử. Thật kỳ lạ khi khúc gỗ bỗng nhẹ như tờ giấy, chàng liền đem về cung và nâng niu như báu vật. Một đêm, dưới ánh trăng mờ, thái tử thấy có bóng người thấp thoáng nơi để khúc kỳ nam, nhưng lại gần xem thì tứ bề vắng vẻ, chỉ phảng phất mùi hương từ khúc kỳ nam bay ra. Những đêm sau đó, thái tử vẫn tiếp tục theo dõi... Rồi một đêm, chàng thấy từ trong khúc kỳ nam bước ra một giai nhan tuyệt sắc. Chàng vụt chạy đến, ôm choàng lấy giai nhân. Không biến kịp vào khúc kỳ nam, giai nhân đành theo thái tử về cung và cho biết tên là Thiên Y Ana. Thái tử thấy nàng Ana xinh đẹp khác thường bèn tâu phụ hoàng xin cưới làm vợ. Hai vợ chồng sống rất hạnh phúc, sinh được hai con - một trai một gái, dung mạo khôi ngô tuấn tú. Một hôm, nỗi nhớ quê hương thúc giục, Thiên Y bế hai con nhập vào kỳ nam trở về làng cũ. Núi Đại An còn đó, nhưng vợ chồng ông tiều phu đã về cõi âm. Thiên Y xây đắp mồ mả cho cha mẹ nuôi và sửa sang nhà của để phụng tự. Thấy nhân dân địa phương còn lạc hậu, bà dạy cày cấy, kéo vải, dệt sợi và đặt ra các lễ nghi... Từ đó, ruộng nương luôn tươi tốt, đời sống nhân dân mỗi ngày một thêm phong lưu. Đến một ngày, có con chim hạc từ trên mây bay xuống, Thiên Y cùng hai con cưỡi hạc bay về trời... Nhân dân nhớ ơn bà đã xây tháp tạc tượng thờ phụng, và mỗi năm vào ngày 23/3 Âm lịch đều làm lễ dâng hoa.

Câu chuyện trên cũng nhằm kể về sự hình thành tháp. Theo đó, ta thấy mỗi tháp dù là của Việt Nam hay Hàn Quốc đều gắn liền với một nhân vật hay giúp đỡ mọi ngừơi, được mọi người yêu quý xây dựng tháp để tôn thờ. Như vậy, tuy có nội dung khác nhau nhưng hai câu chuyện này đều thể hiên sự tôn kính của người dân, vì sự ngưỡng mộ mà dựng lên.

Mặt khác, còn có những thần thoại của Việt Nam cũng có những con người khống chế được những con vật hung dữ và đựơc chúng trả ơn. Như câu chuyện “Chàng đốn củi và con yêu tinh”, kể về chàng tiều phu vào rừng đốn củi, vì tha cho con yêu tinh trốn trong cây nên được nó trả ơn cho một con ngựa đi ngoài ra vàng và cái mâm gõ một cái là ra cơm, anh dùng những đồ dạc này đi giúp đỡ người khác. So với thần thoại ‘tháp chị em’ của Hàn Quốc, thì câu chuyện này của nước ta có nội dung nhẹ nhàng hơn với mục đích răn dạy người đời “ở hiền thì gặp lành”. Do mục đích hướng tới khác nhau nên hình tượng nhân vật được dân gian xây dựng nên cũng rất khác biệt. Một bên là một người tiều phu bình thường, hiền lành , một bên là một một nhà sư tôn nghiêm chuyên làm việc thiện giúp mọi người.

III. THẦN THOẠI “SAO TAM THÁI”

1. Tóm tắt truyện

Từ ngày xa xưa, ở một nơi gọi là Hắc Long Đàm, có một ngôi làng luôn được mặt trời chiếu sáng. Vào một ngày nọ, một người phụ nữ sinh được một lúc ba người con trai nối dõi. Người mẹ là một người rất nghiêm khắc nhưng rất tài ba. Bà nói rằng khi ba người con được 8 tuổi sẽ cho theo những người tài giỏi nuôi dạy 10 năm, nên đã cho họ ra khỏi nhà.

Ba anh em đã tự đi tìm và học được những tài năng rất thần kì. Người thứ nhất học được tài năng có thể ngồi trên tấm nệm từ trời và bay được. Người thứ hai với tài năng, một mắt nhắm và mắt kia có thể nhìn thấy được phía xa, còn người thứ ba tài giỏi kiếm cung. Sau mười năm, ba anh em trở về cùng sống và chăm sóc mẹ, giúp đỡ dân làng. Thế nhưng một ngày nọ, một trận cuồng phong kéo đến và mặt trời đã biến mất.

Ba anh em nghe theo lệnh của người mẹ, lên đường tìm mặt trời. Tìm đến vài năm nhưng không thể tìm được mặt trời, ba anh em đã tìm đến thầy giáo, sau khi bàn bạc với thầy giáo, họ đã đi tìm sư phụ của thầy giáo. Và ngay lúc đó họ được cho biết rằng đó là vì một cặp hắc long (rồng đen) sống ở Hắc Long Đàm đã nuốt mặt trời. Họ đã cưỡi tấm đệm bay lên trời và bắt đầu chiến đấu với hắc long. Con hắc long rất hung tợn, nhưng ba anh em và thầy giáo của họ đã hợp sức lại, dùng cung bắn con hắc long đã nuốt mặt trời, khiến nó nôn mặt trời ra. Hai con hắc long đó bị ba anh em đánh bại nên một con chạy trốn về hướng Hắc Long Đàm, một con thì rơi xuống đất chết.

Trần gian vui mừng khi tìm lại được mặt trời. Nhưng mẹ của ba anh em nói rằng không thể để con hắc long còn sống có thể lại nuốt mặt trời lần nữ. Vì thế bà đã bảo ba anh em hãy lên trời và luôn luôn bảo vệ mặt trời. Từ đó ba anh em lên trời và trở thành Sao Tam Thái.

2. Phân tích truyện

2.1. Lý giải nguồn gốc, ý nghĩa của câu chuyện

Truyện “Sao Tam Thái” lý giải nguồn gốc của hiện tượng nhật thực. “Sao Tam Thái” là ba ngôi sao gắn với sao Bắc Đẩu, sao Bắc Đẩu chỉ Sao Tử Vi. Sao Tử Vi nghĩa là “Thiên tử” nên “Sao Tam Thái” nghĩa là bao ngôi sao bảo vệ Thiên tử. Nói cách khác, đây có thể được xem là truyền thuyết nguồn gốc thiên thể, giải thích nguồn gốc xuất hiện của Sao Tam Thái.

Ngày xưa người ta nghĩ rằng mọi việc xảy ra trên mặt đất đều liên quan tới trời, hiện tượng tự nhiên mặt trời bị che khuất là biểu hiện của tai họa trên mặt đất. Và người ta cũng nghĩ rằng tai họa đó có thể đẩy lùi với sự giúp đỡ của Trời. Vì thế mà hiện tượng tự nhiên không nhìn thấy mặt trời trong chốc lát được xem như câu chuyện để nâng cao ý thức cộng đồng liên quan với việc trên mặt đất.

Khi đối mặt với khó khăn, đừng có dựa vào những việc mang tính thần thánh hay hi vọng nó có thể tự động được giải quyết mà phải cố gắng giải quyết vấn đề đó, sau đó phải nỗ lực hơn nữa để ngăn ngừa khó khăn phát lại. Đó chính là tinh thần tiến thủ mà những nhân vật chính của thần thoại này đã đạt được. Tóm lại, câu chuyện này có thể xem như phản ánh được suy nghĩ tích cực là ưu tiên hàng đầu cho tập thể, cho đất nước hơn là cho cá nhân hay gia đình.

Truyện “Sao Tam Thái” thể hiện sự sùng bái của người Korea đối với mặt trời. Câu chuyện này là thần thoại của những người Joseon sống ở khu vực ven Trung Quốc, kể về ba anh em học năng khiếu làm vua hợp sức với nhau chống lại Hắc Long nuốt mặt trời và trở thành Sao Tam Thái để tiếp tục bảo vệ mặt trời. Vì vậy, tác phẩm này vừa là nguồn gốc của của Sao Tam Thái bảo vệ mặt trời khỏi Hắc Long của biển, vừa là câu chuyện khẳng định được tinh thần sùng bái mặt trời của dân tộc Hàn. Và nó cũng cho thấy vấn đề cũng như sự nỗ lực để giải quyết vấn đề đó. Ngoài ra, thông qua chi tiết ba người con vâng lời mẹ mình để ra đi tìm lại mặt trời cũng cho thấy được tư tưởng trọng chữ “hiếu” của người Hàn.

Ngày nay, việc sùng bái mặt trời của người Korea vẫn còn đậm nét thông qua việc kỷ niệm ngày lễ Đông Chí. Đông chí (Dongji) là lễ hội báo hiệu một năm mới (theo âm lịch) lại bắt đầu đối với người Hàn Quốc. Đó là ngày mặt trời hồi sinh, ngày dài hơn đêm. Người dân gọi ngày cầu khấn trời phật và tổ tiên này là A Se, có nghĩa là Tiểu tân niên. Tuy Đông Chí không còn được người Hàn Quốc coi là ngày lễ lớn như Chuseok (Trung Thu) hay Seol (Năm mới âm lịch), ngày này vẫn được kỷ niệm với các phong tục như nấu cháo đậu đỏ “Patjuk” để ăn và treo lên cây cối quanh nhà. Người dân trên bán đảo này tin rằng, đậu đỏ có sức mạnh xua đuổi tà ma. Người Hàn Quốc cổ cho rằng, ma quỷ ghét đậu đỏ và những thứ có màu sắc rực rỡ. Ngày mà khi mặt trời ở vị trí 270 kinh độ thì được gọi là ngày Đông Chí. Vì ngày Đông Chí được tạo ra dựa trên sự chuyển động của Mặt trời nên có thể thấy được tư tưởng sùng bái Mặt trời chứa đựng trong ngày này.

2.2. So sánh với thần thoại Việt Nam

Việt Nam cũng có nhiều truyền thuyết, thần thoại liên quan đến hiện tượng tự nhiên như: Sơn Tinh Thủy Tinh, Thánh Dóng...nhưng truyện có liên quan đến hiện tượng Nhật thực, Nguyệt thực thì không nhiều lắm. Điển hình có thần thoại của người Chăm và truyện “Gấu ăn trăng”.

2.2.1. Thần thoại của người Chăm

Chuyện kể rằng trời đất là do thần trời (thần Cha) và thần Đất (thần Mẹ) sáng tạo ra. Thần Cha còn gọi là Pô Chà Ta là đấng sáng tạo ra vũ trụ bao la cùng muôn vật. Dưới thần Trời là cả một hệ thống thần linh các Pô Yang khác. Thí dụ như thần Mặt Trời, khi thần này cúi lạy ông Trời Pô Chà Ta thì sinh ra Nhật thực. Còn khi thần này đi qua cung trăng có bà Chà ở đó, bà Chà đứng lên cúi chào thì sinh ra Nguyệt thực, nhóm thần thoại kể về nguồn gốc vũ trụ và tự nhiên phản ánh cách giải thích, nhìn nhận hết sức hồn nhiên của con người thời cổ về vũ trụ, núi sông, biển cả, trời đất và muôn vàn các hiện tượng tự nhiên khác, đã chứa đựng cả khoa học và triết học duy vật sơ khai. Có thể tìm thấy trong đó cái logic biện chứng của mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và môi trường sinh tự thuở ban đầu, khi con người mới định cư trên những vùng đất hoang sơ còn nhiều lạ lẫm.

2.2.2. Truyện “Gấu ăn trăng”

Ngày xưa, chú Cuội chưa lên sống trên cung trăng mà vẫn ở mặt đất này cùng với chúng ta. Cuội cũng có bố mẹ như chúng ta vậy. Một hôm, để thưởng Cuội đã chăm cắt cỏ, mẹ Cuội mua cho chú một cái bánh đa thật to, tròn vành vạnh, vừa dày lại vừa đặc kín những vừng là vừng. Cuội hí hửng ôm tấm bánh đa trong lòng, vừa đi vừa hát líu lo. Đến cửa rừng, bỗng nhiên một con Gấu Đen to béo hiện ra. Nó quát:

“Muốn sống, nộp ngay cái bánh cho ta! Ta đang đói bụng đây!”

Cuội ôm bánh, quay đầu chạy lui về phía cánh đồng. Hai bàn tay Cuội nắm chặt hai bên tấm bánh giơ lên cao. Gấu hồng hộc đuổi gần tới nơi, thì may sao một luồng gió mạnh thổi vào tấm bánh, đưa Cuội lên cao như một cánh diều. Gió thổi Cuội lên trời, cao mãi vượt qua đỉnh núi, vượt mấy tầng mây gần tới mặt trăng, cây đa trên đó thả một chùm rễ xuống để Cuội bám lấy mà leo lên. Từ đó, chú Cuội sống trên mặt trăng và thường ngồi bên gốc đa. Ở dưới đất, Gấu ta nhìn thấy trăng,bèn nghĩ đó là cái bánh đa lớn mà Cuội đã đem đi ngày ấy. Gấu nuốt nước dãi. Thèm lắm. Một đêm, gấu rắp tâm leo lên trời để ăn cái bánh-đa-trăng cho bằng được. Nó trèo lên đỉnh núi cao, nhảy phốc lên một đám mây đen, thoe chiều gió nhằm phía mặt trăng bay tới. Khi bóng Gấu và đám mây đen bắt đầu phủ mờ trăng, bỗng nhiên làng xóm khắp mặt đất nổi lên tiếng đập thúng đập mẹt như là đổ thóc đổ gạo ra để xay, để giã vậy. Gấu tham ăn nghĩ bụng: “Chà, mình trở lại dưới đó, chắc là kiếm được bữa no!”. Nó buông mình khỏi đám mây đen, rơi vút xuống như một hòn đá tảng. Thân nó giáng trúng một gốc cây, đau ê ẩm. May mà nó có mật gấu là vị thuốc hay, nên nhờ đó mà qua khỏi. Nhưng từ đó Gấu không dám tính đến chuyện ăn trăng nữa. Còn mặt trăng thì cứ đêm rằm là tròn vành vạnh và sáng ngời ngời.

Hai truyện này nếu so sánh với “Sao Tam Thái” của Hàn Quốc thì có sự khác biệt lớn. Trong cả hai truyện, những chi tiết, tình tiết truyện cho thấy cách nhìn nhận hết sức hồn nhiên của người Việt Nam, hợp với tinh thần cam chịu, “yêu hòa bình, ghét chiến tranh” của dân tộc Việt. Còn trong “Sao Tam Thái”, ta thấy có những tình tiết tạo nên sự khắc nghiệt do thời tiết mang lại như: “cơn cuồng phong càng kéo đến, trời đất tối om không thể nhận ra được gì trước mắt. Đây là cảnh tượng mọi người chứng kiến lần đầu tiên trong đời nên rất hoảng loạn, không biết làm gì hết...”. Chính vì do sự khắc nghiệt như vậy nên 3 người anh em trong câu chuyện này cũng phải chiến đấu rất quyết liệt: “ba anh em đã cưỡi tấm đệm bay lên trời và bắt đầu chiến đấu với Hắc Long. Con Hắc Long rất hung tợn nhưng 3 anh em và thầy giáo đã hợp sức lại, dùng cung bắn con Hắc Long đã nuốt mặt trời, khiến nó nôn mặt trời ra...”. Điều này phản ánh rất rõ tính cách dân tộc Hàn, dũng cảm, không đầu hàng trước mọi khó khăn, thử thách và trên hết đó là tinh thần yêu nước, bảo vệ dân tộc. Đó là những nét khác nhau cơ bản của Việt Nam và Hàn Quốc được thể hiện qua thần thoại.

IV. Ý NGHĨA

Có thể thấy các câu chuyện thần thoại của Hàn Quốc khá phong phú, đa dạng, giàu ý nghĩa và luôn được người Hàn Quốc khắc sâu và bồi đắp qua các thế hệ. Những câu chuyện thần thoại có từ xa xưa được lưu giữ, truyền tụng mãi cả qua phương thức dân gian truyền miệng lẫn trong những tác phẩm văn học bác học. Có thể nói chúng là khởi đầu lịch sử, văn chương, triết học,tạo dựng nền tảng tinh thần, nền tảng văn hoá của dân tộc.

Người Hàn Quốc vốn gốc từ vùng núi non, sau này khi mở rộng địa bàn sinh sống và canh tác theo những dòng sông và vươn ra biển mới thêm những câu chuyện thần thoại từ những con vật thuộc thế giới nước. Những câu chuyện thần thoại tuy đa dạng nhưng luôn có điểm chung chính là sự sáng tạo vũ trụ, sinh tạo giống nòi, hình thành dân tộc, sự kết hợp hoà điệu âm dương của Trời-Đất, Núi- Sông, Nam- Nữ…

Chúng tôi không có tham vọng dựng lại toàn bộ bức chân dung tinh thần của đất nước Hàn Quốc, mà chỉ phác thảo ở những nét cơ bản nhất, cốt lõi nhất. Qua đó, chứng tỏ rằng thần thoại dù hư ảo đến đâu vẫn gắn chặt với hiện thực: hiện thực của tình cảm biết ơn tổ tiên, ý thức nguồn cội và khát vọng chinh phục thế giới của nhân loại buổi đầu. Và tất cả những tình cảm đẹp đẽ đó vẫn còn là điều đáng quý đối với chúng ta hôm nay.

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC

STT

Họ Và Tên SV

Công việc được giao

1.

Đỗ Thị Thúy Phượng

Dịch các tác phẩm cần phân tích

2.

Trần Thoại Nhã Đan

Phân tích truyện Sao Tam Thái

3.

Đỗ Thị Trang Thanh

Phân tích truyện Tháp Anh Em

4.

Huỳnh Kim Ngân

Phân tích truyện Tráng Sĩ Trẻ Con

5.

La Anh Thư

Định Nghĩa Thần Thọai+ Tổng hợp bài.


{ Hãy nhập thông tin bình luận bài viết này }
 
Do Thi Trang Thanh đã offline
 #1  
Thành viên đang xem
Có 1 người dùng đang xem (1 khách)
Trang chủ » HÀN QUỐC & HÀN QUỐC HỌC » Nghiên cứu văn học – ngôn ngữ » thần thoại hàn quốc- nhóm phản biện. lớp hàn 1-09
Di chuyển nhanh:  
Có bài mới Có bài mới Không có bài mới Không có bài mới
Có bài mới (Đã khóa) Có bài mới (Đã khóa) Không có bài mới (Đã khóa) Không có bài mới (Đã khóa)
Thông báo Thông báo Chú ý Chú ý
Đã chuyển Đã chuyển Bình chọn Bình chọn
Bạn không thể gửi bài viết mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xóa bài viết của bạn
Bạn không thể chỉnh sửa bài viết của bạn
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn có thể bình chọn
Giờ hiện tại: 1:25 AM - GMT + 7

phim nhat ban|sửa chữa nhà hà nội|phim an do