Chào bạn Trang chủ | Tìm kiếm | Bài viết mới | Thành viên | Đăng ký | Đăng nhập |

Trang chủ » HÀN QUỐC & HÀN QUỐC HỌC » Nghiên cứu văn hóa - xã hội » (Đọc 4 - Bài tập cá nhân 2) Bibimbab Vùng Jeonju
(Đọc 4 - Bài tập cá nhân 2) Bibimbab Vùng Jeonju  
Chủ đề trước · Chủ đề tiếp theo
samng1707
26/3/2016 7:42:32 PM
Nguyễn Bảo Nghi

Cấp bậc: SINH VIÊN

Tham gia: 29/1/2016
Bài viết: 27
Đến từ: Lớp Hàn 2 - Khoa Hàn Quốc học - Trường ĐH KHXH&NV

Đánh giá: [25]

Cảm ơn: 9 lần
Được Cảm ơn: 5 lần
전주 비빔밥


한국인의 밥상은 밥과 반찬
, 그리고 국으로 이루어져 있다. 밥을 맛있게 먹기 위한 구성이다. 이 밥에 반찬을 더해 비비면 비빔밥이고, 국을 말면 국밥이다. 반찬과 국을 따로 차릴 필요 없이 한 그릇의 밥을 간단히 먹을 수 있게 조리한 것이 비빔밥이고 국밥인 것이다. 비빔밥이 문헌에 등장하는 것은 1890년대에 나온 [
시의전서]가 처음이다. 그 전의 문헌에 없다 하여도 비빔밥은 밥과 적당한 반찬만 있으면 조리할 수 있는 음식이니 오래 전부터 흔히 먹었을 것이다. 밥과 반찬이라는 한민족의 밥상 구성이 이루어진 시기를 고려시대 중기로 추정하고 있으므로 비빔밥의 탄생도 그 즈음에 있었다고 할 수 있을 것이다.



비빔밥 유래에 대한 설이 많은 이유

비빔밥 유래에 대한 설은 다양하다. 첫째 궁중음식설. 조선시대 왕이 점심에 먹는 가벼운 식사로 비빔이란 것이 있는데, 그 비빔이 비빔밥의 유래라는 것이다. 둘째 임금몽진음식설. 나라에 난리가 일어나 왕이 피란을 하였는데, 왕에게 올릴 만한 음식이 없어 밥에 몇 가지 나물을 비벼 낸 것에서 유래하였다는 것이다. 셋째 농번기 음식설. 농번기에는 다들 바빠 구색을 갖춘 상차림을 준비하기 어려우니 그릇 하나에 여러 음식을 섞어 먹게 되었다는 설이다. 넷째 동학혁명설. 동학군이 그릇이 충분하지 않아 그릇 하나에 이것저것 비벼 먹은 데서 유래했다는 설이다. 다섯째 음복설. 제사를 마치고 나서 상에 놓인 음식으로 비벼 먹은 것에서 비롯하였다는 설이다. 여섯째 묵은 음식 처리설. 섣달 그믐날에 묵은 해의 음식을 없애기 위하여 묵나물에 밥을 비벼 먹은 것에서부터 비빔밥이 유래하였다는 것이다. 이렇게 비빔밥 유래에 대한 설이 많은 것은 어느 설이건 그 근거가 희박하다는 뜻이다. 밥과 반찬이 있으면 자연스레 비벼서도 먹게 되어 있으니 어디에서 유래하였다고 생각하는 것 자체가 무리한 일이다. 한민족이 밥을 지어 먹었을 때부터 비빔밥은 있었다고 보는 것이 맞다.

남문시장에 비빔밥집이 많았다

전주비빔밥은 전주 사람들의 가정에서 먹는 비빔밥이 아니다. 전주에 있는 외식업체의 비빔밥이다. 한반도에서의 근대 음식점 발달 역사로 보아 1800년대 말에 한양과 평양 등의 식당에서 처음 비빔밥이 팔렸을 것이다. 1929 [별건곤]이란 잡지에 전주비빔밥에 대한 기록이 있는데, 전주에서도 그 즈음에 비빔밥을 내는 식당이 있었을 것이다. 한국학중앙연구원 주영하 교수의 전주 현지조사에 의하면 1930년대 남문시장 일대 간이식당에서 비빔밥을 판매했었다고 한다. 전주비빔밥의 명성은 해방 직후 개업한 것으로 알려진 옹팡집의 영향이 컸던 것으로 보인다. 당시 행정관료, 정치인, 문인 등 유명인사들이 들락거리면서 옹팡집은 전국적인 '맛집'으로 이름이 났었다.

옹팡집에 대한 옛 기사를 보면 비빔밥이라면서도 조기찌개, 전어구이 등 여러 반찬들이 따라 나오는 것으로 묘사하고 있다. 전주에는 10여 가지가 넘는 음식을 내는 한정식집이 많은데, 옹팡집도 그런 식당 중의 하나일 것이며, 밥을 흰밥이 아닌 비빔밥으로 내면서 비빔밥집이란 이름을 얻었을 것으로 보인다. 한정식에 비빔밥이 결합한 이 식단 구성은 요즘도 전주비빔밥집에서 면면히 이어오고 있는데, 차려진 상에서 비빔밥을 빼고 흰밥을 대신 놓아도 훌륭한 상차림이 된다. 현재 전주의 비빔밥 식당 중 가장 오래된 곳은 한국집이다. 1952년 떡집으로 시작하여 1953년부터 비빔밥을 내었다. 한국집의 주순옥 씨(82)는 개업 당시의 남문시장 좌판에서 파는 비빔밥은 나물에 날달걀을 넣고 비비는 것이었는데, 한국집에서는 이를 좀더 고급화하였다고 한다.

세계인의 비빔밥이기 이전에 전주 사람들의 비빔밥

전주비빔밥의 명성이 전국화한 것은 1970년대이다. 서울의 백화점이 향토물산전 등을 열면서 지역음식 판매장을 열었는데, 여기에 전주비빔밥이 끼였다. 처음엔 간이음식점이었다가 인기가 있자 전주의 음식점 주인을 불러들여 고정 매장을 열었다. 서울에서 인기가 있자 전주에서도 비빔밥 전문점을 표방한 식당이 여기저기 개업을 하였다. 1980년에는 명동에 단독 매장의 전주비빔밥 전문점도 섰다. 1981년 여의도에서 열린 국풍81 행사에 전국의 유명 향토음식이 다 모였는데, 여기에도 전주비빔밥이 올라왔다. 이 즈음에 전주 하면 비빔밥을 연상하게 될 정도로 전주비빔밥은 향토음식으로서의 유명성을 확고히하게 되었다.

1988년 서울올림픽이 열리면서 한국인은 자신의 문화에 대해 큰 자긍심을 갖게 되는데, 그 중에 비빔밥이 한국음식문화의 한 상징으로 부각되었다. 밥 위에 올리는 나물의 색은 오방색을 하고 있어 한국적 우주관을 지니고 있으며 영양학적으로 매우 우수한 음식이라고 홍보되었다. 1996년 마이클 잭슨이 한국에 공연을 와서 비빔밥을 즐겨 먹는다는 사실을 알려 비빔밥에 대한 민족적 자부심을 극단으로 부추겼다. 비빔밥은 한국인만 맛있어하는 것이 아니라 외국인도 맛있어할 것이란 생각을 가지게 된 것을 넘어, 외국인도 맛있어해야 한다는 강박까지 가지게 되었다. 2000년대 후반부터 정부가 추진하는 한식 세계화 정책과 관련하여 비빔밥이 주요 음식으로 거론되는 것도 이런 흐름 안에 있는 것이다. 한국 비빔밥의 중심에는 전주비빔밥이 있으니 전주에서도 한식 세계화와 관련하여 비빔밥 축제 등 여러 일이 벌어지고 있다. 그러나, 전주 사람들에게 전주비빔밥은 인기가 있는 편이 아니다. 외지에서 친인척이나 지인이 오면 마지못해 가서 먹는 음식일 뿐이다. 관광음식으로서의 가치에만 집중하였지 현지인의 일상음식으로서의 비빔밥에 대한 가치에는 소홀하였기 때문이다.

BIBIMBAB VÙNG JEONJU

Để có được một bữa ăn ngon thì trên bàn ăn của người Hàn Quốc thường bao gồm cơm, các món ăn phụ và súp canh. Cơm được trộn với các món ăn phụ gọi là bibimbab, và cơm ăn chung với canh gọi là kukbab. Khi chế biến, người ta không cần cho canh và các món phụ vào riêng từng bát để ăn bibimbab và kukbab dễ dàng hơn. Vào những năm 1890, bibimbap lần đầu tiên xuất hiện trong văn học qua cuốn Thi Y Toàn Thư. Trước khi cuốn sách này ra đời, bibimbab chỉ là một món ăn thường ngày có từ ngày xưa bao gồm cơm và món ăn phụ. Người ta cho rằng cơm và món phụ xuất hiện trên bàn ăn của người Hàn từ giữa triều đại Goryeo và bibimbab ra đời vào khoảng thời gian đó.


Nhiều lí do mô tả về nguồn gốc của bibimbab

Nguồn gốc của bibimbap được miêu tả vô cùng đa dạng. Đầu tiên, nó là món ăn có xuất xứ từ trong cung. Ở triều đại Joseon, vua thường ăn trưa bằng món ăn nhẹ gọi là bibim (món trộn), món bibim đó là nguồn gốc của bibimbab ngày nay. Thứ hai, đó là món ăn trong lúc chạy loạn. Khi chiến tranh nổ ra, do không có thứ gì có giá trị để dâng lên vua lúc vua đi chạy nạn ngoài món ăn được trộn từ nhiều loại rau củ với cơm nên bibimbab bắt nguồn từ đó. Thứ ba, nó là thức ăn trong vụ mùa thu hoạch. Vì phải bận rộn chuẩn bị cho mùa thu hoạch nên người ta ăn bằng cách trộn nhiều loại thức ăn vào trong một cái bát. Thứ tư, đó là món ăn trong cách mạng đồng môn. Do không có đủ bát nên những người đồng môn phải trộn thứ này thứ kia vào chung trong một cái bát để ăn. Thứ năm, đó là món ăn chia lộc. Bibimbab bắt nguồn từ việc người ta trộn tất cả các món ăn có trên bàn lại với nhau sau khi kết thúc cúng giỗ. Thứ sáu, nó có nguồn gốc từ việc xử lí thức ăn thừa. Vào ngày cuối cùng của tháng chạp, người ta trộn cơm với rau củ để giải quyết hết tất cả thức ăn còn sót lại trong năm cũ. Như vậy có nghĩa là có nhiều bằng chứng giải thích về nguồn gốc của bibimbab. Thật là vô lý khi nghĩ rằng chỉ cần có cơm và món phụ thì ở bất cứ đâu người ta cũng có thể dễ dàng trộn ăn. Từ khi người Hàn bắt đầu có xu hướng ăn cơm thì bibimbab cũng bắt đầu xuất hiện.

Ở chợ Nammun có nhiều quán ăn bán bibimbab

Bibimbap vùng Jeonju không phải là bibimbab được ăn với những thành viên trong gia đình mà đó là loại bibimbab thường dùng trong các buổi tiệc hội nghị ở Jeonju. Theo lịch sử phát triển các nhà hàng hiện đại thì bibimbab lần đầu tiên được bán ở các nhà hàng Hàn-Âu và nhà hàng Bình Nhưỡng ở bán đảo Triều Tiên vào những năm 1800. Vào năm 1929, tạp chí Byulgeongon đăng bài về bibimbab vùng Jeonju thì vào thời gian đó cũng có một nhà hàng bán bibimbab ở Jeonju. Căn cứ vào điều tra thực tế khu vực Jeonju của giáo sư Joo Young Ha ở Viện Nghiên cứu Hàn Quốc thì vào những năm 1930 lượng tiêu thụ bibimbab ở nhà hàng Kang Yi chợ Nammun là rất lớn. Danh tiếng của bibimbap vùng Jeonju bắt đầu lan rộng ngay sau khi được bày bán cũng là lúc sức ảnh hưởng to lớn của Ongpangjib (nhà ăn Ongpang) được mở ra. Vào thời điểm đó, những người nổi tiếng như các quan chức nhà nước, các chính trị gia, nhà văn,… thường xuyên ghé đến ăn nên Ongpangjib có tên gọi phổ biến trong toàn quốc là matjib (nhà hàng).



Ongpangjib

Nếu xem các bài báo ngày xưa về Ongpangjib thì nó không chỉ nổi tiếng nhờ bibimbab mà còn nhờ sự xuất hiện của các món ăn phụ như món hầm sơ hay cá nướng. Ở Jeonju có nhiều nhà hàng giới hạn phục vụ không quá 10 món ăn, và Ongpangjib cũng là một trong số đó, chúng ta thấy rằng các quán ăn mang tên Nhà hàng Bibimbab không phải là các quán ăn chỉ bán cơm trắng thông thường. Thực đơn có bibimbab ở các nhà hàng giới hạn món ăn dạo gần đây cũng đang xuất hiện ở các nhà hàng bibimbab ở Jeonju. Khi chuẩn bị bàn ăn, sẽ tuyệt vời hơn nếu thay các loại cơm trắng thông thường thành bibimbab. Trong số các nhà hàng bibimbab ở Jeonju hiện tại thì Nhà hàng Hàn Quốc là lâu đời nhất. Năm 1952, nó được khai trương như là một tiệm bánh tteok (bánh gạo) và chuyển sang bán bibimbab từ năm 1953. Ông Joo Soon Ok (82 tuổi) của Nhà hàng Hàn Quốc nói rằng lúc khai trương quầy ăn ở khu vực phía trái chợ Nammun, ông đã bán bibimbab được trộn với rau củ và trứng gà sống, sau đó quầy ăn được cải tiến cao cấp hơn và trở thành Nhà hàng Hàn Quốc.


Bibimbab của người Jeonju trở thành Bibimbap của mọi người trên thế giới

Danh tiếng của bibimbap vùng Jeonju đã được lan rộng ra cả nước vào những năm 1970. Người ta mở các cửa hàng đặc sản địa phương trong trung tâm bách hóa ở Seoul và các gian hàng ẩm thực vùng miền để bán bibimbab Jeonju. Lúc đầu, những gian hàng ẩm thực đơn giản đó đã được biết đến và người ta khuyến khích chủ các gian hàng ẩm thực vùng Jeonju nên mở một quán ăn cố định. Từ khi các nhà hàng bibimbab được khai trương ở nhiều nơi thì nhờ lời đồn mà bibimbab cũng bắt đầu nổi tiếng ở cả Jeonju cũng như Seoul. Năm 1980, quầy bibimbab Jeonju xuất hiện đơn độc giữa Myeongdong. Tại lễ hội phong tục quốc gia năm 1981 được tổ chức ở Yeoeuido, tất cả các món ăn địa phương nổi tiếng trong cả nước được tập trung lại, và bibimbap Jeonju cũng có mặt ở đây. Trong sự kiện này, bibimbab vùng Jeonju đã được xác nhận là đặc sản địa phương có mức độ nổi tiếng hơn cả tưởng tượng.

Khi Olympic Seoul 1988 được khai mạc cũng là lúc người Hàn Quốc cảm thấy vô cùng tự hào về văn hóa đất nước mình, trong đó bibimbap Hàn Quốc đã nổi lên như một biểu tượng của văn hóa ẩm thực. Các loại rau củ với 5 màu sắc khác nhau nổi bật trên bát cơm trắng không chỉ thể hiện cho vũ trụ quan mang tính đặc trưng của Hàn Quốc mà còn quảng bá món ăn ưu tú giàu dinh dưỡng này đến thế giới. Vào năm 1996, khi Michael Jackson đến Hàn Quốc tổ chức concert, ông đã thưởng thức bibimbap và nói rằng món ăn này mang tính tự hào dân tộc vô cùng cao. Ông cho rằng bibimbap không chỉ hợp với khẩu vị người Hàn Quốc mà còn hợp với người nước ngoài nữa. Từ nửa cuối những năm 2000, cùng với các chính sách toàn cầu hóa ẩm thực Hàn Quốc, chính phủ đã thảo luận và chọn bibimbap là món ăn chính là trong xu hướng này. Ở các khu trung tâm của Hàn Quốc có bibimbab Jeonju và ở Jeonju có các sự kiện ẩm thực liên quan đến bibimbab và các món ăn toàn cầu hóa cũng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, đối với người Jeonju thì bibimbab Jeonju lại không được ưa thích cho lắm. Nó chỉ là món ăn dùng để đãi người thân hoặc người quen ở xa đến mà thôi. Đó là bởi vì người dân địa phương không quan tâm đến giá trị thường ngày của bibimbab mà chỉ chú ý đến giá trị du lịch.

Nguồn: http://navercast.naver.com/contents.nhn?rid=43&contents_id=6877&leafId=43



<< Sửa đổi bởi: samng1707 -- 26/3/2016 8:42:25 PM >>

{ Hãy nhập thông tin bình luận bài viết này }
 
samng1707 đã offline
 #1  
Những thành viên sau đã cảm ơn samng1707 vì bài viết hữu ích này:
hoailinh1710
2/5/2016 11:56:00 PM
Lơ tơ mơ

Cấp bậc: THÀNH VIÊN MỚI

Tham gia: 31/3/2015
Bài viết: 50
Đến từ: Hàn 1-HQH-ĐHKHXNNV

Đánh giá: [0]

Cảm ơn: 1 lần
Được Cảm ơn: 3 lần
Bài dịch của bạn rất tốt, câu văn dịch suông, trình bày đẹp và có kèm hình ảnh sinh động. Tuy nhiên mình cũng có vài góp ý. Từ 국밥 mình nghĩ phiên âm thành gukbap thì chính xác hơn chứ nhỉ? Với lại mình thấy 1 mục in đaajm sau mình có thể dịch thế này.

비빔밥 유래에 대한 설이 많은 이유 -> "Có nhiều học thuyết về nguồn gốc ra đời của bibimbap"





{ Hãy nhập thông tin bình luận bài viết này }
 
hoailinh1710 đã offline
 #2  
Thành viên đang xem
Có 1 người dùng đang xem (1 khách)
Trang chủ » HÀN QUỐC & HÀN QUỐC HỌC » Nghiên cứu văn hóa - xã hội » (Đọc 4 - Bài tập cá nhân 2) Bibimbab Vùng Jeonju
Di chuyển nhanh:  
Có bài mới Có bài mới Không có bài mới Không có bài mới
Có bài mới (Đã khóa) Có bài mới (Đã khóa) Không có bài mới (Đã khóa) Không có bài mới (Đã khóa)
Thông báo Thông báo Chú ý Chú ý
Đã chuyển Đã chuyển Bình chọn Bình chọn
Bạn không thể gửi bài viết mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xóa bài viết của bạn
Bạn không thể chỉnh sửa bài viết của bạn
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn có thể bình chọn
Giờ hiện tại: 10:42 AM - GMT + 7

phim nhat ban|sửa chữa nhà hà nội|phim an do