Chào bạn Trang chủ | Tìm kiếm | Bài viết mới | Thành viên | Đăng ký | Đăng nhập |

Trang chủ » HÀN QUỐC & HÀN QUỐC HỌC » Nghiên cứu văn hóa - xã hội » (Đọc 4-bài tập nhóm 5): Hanok và nhà truyền thống của Việt Nam
(Đọc 4-bài tập nhóm 5): Hanok và nhà truyền thống của Việt Nam  
Chủ đề trước · Chủ đề tiếp theo
hoailinh1710
7/3/2016 12:10:16 AM
Lơ tơ mơ

Cấp bậc: THÀNH VIÊN MỚI

Tham gia: 31/3/2015
Bài viết: 50
Đến từ: Hàn 1-HQH-ĐHKHXNNV

Đánh giá: [0]

Cảm ơn: 1 lần
Được Cảm ơn: 3 lần

HANOK VÀ NHÀ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HANOK

1. Định nghĩa

Hanok được định nghĩa một kiểu nhà truyền thống được sử dụng với mẫu kiến trúc kiểu cổ của Hàn Quốc. Nó còn có cái tên khác là “Nhà của Joseon”. Ngôi nhà được xây kiểu hiện đại thì còn gọi là “Nhà kiểu Tây”. Quay lưng vào mặt sau của núi, việc giữ gìn phong thủy được thấy một cách lý tưởng là việc xây dựng kiểu nhà này nằm ở phía trước dòng nước chảy và phía Nam. Tuy nhiên, theo hình dạng núi hay sông mà điều chỉnh cách chi tiết kiến trúc của số tứ trụ hay theo nghề nghiệp hoặc tính lâu dài mà quyết định điều chỉnh kiến trúc tùy ý sao cho phù hợp.

Hơn nữa, dựa theo hướng gió và vị trí nước, hướng những con đường của bình nguyên với núi, tức là căn cứ theo lý luận vị trí phong thủy cùng với việc dựa theo xu hướng của người dân và mục đích của nhà ở mà Hanok cũng quyết định xây kiến trúc theo những kiểu rất khác nhau. Hệ thống sưởi Ondol cũng được xuất hiện để làm ấm sàn nhà trong mùa đông lạnh giá, và nó cũng làm sàn nhà mát mẻ hơn khi hè đến. Kiểu kiến trúc truyền thống của Hàn Quốc này trải qua các vương triều khác nhau thì có sự thay đổi mà thời hiện đại, kiểu kiến trúc được yêu thích nhiều nhất chủ yếu theo kiểu kiến trúc của thời Joseon, đại đa số quyết định theo kiểu của thời đại Nam Bắc Hàn.

2. Lịch sử hình thành

Nhà “Hanok” của Hàn Quốc được biết đến thông qua quá trình phát triển cách trọng tâm độc lập của Mãn Châu và Triều Tiên.

- Thời kì đầu

Những người tối cổ (thời kì đồ đá) thường sống ở trong hang hay xây những ngôi nhà sơ sài để ở. Đến thời kì đồ đá mới, con người phát triển hơn, họ xây những cái hầm. Việc đào ít đất và xây căn nhà nhỏ với một cái trụ bằng gỗ nói lên nếp sống sinh hoạt trọng tâm cốt yếu của họ. Trụ cột bằng gỗ ấy được hình thành từ cây và mái nhà được phủ lên bằng cỏ.

Ở thời kì đồng xanh, người ta cư trú ở trong nhà với những cái cột phía trong được dựng lên tương đối rộng. Và ở thời kỳ đồ sắt, ở đây cải tiến lên kĩ thuật phòng có máy sưởi với hệ thống Gudưl và Ondol cùng với việc xuất hiện những ngôi nhà ngói mà được dựng lên từ những mái ngói xưa cũ bằng đất duy trì cho đến ngày nay thành Hanok.

Khi họ xây những cái nhà dưới hầm bằng cách đào đất ở tầng dưới như thế thì nó rất dễ bị hỏng bởi những cơn mưa lớn kéo dài nên dần dần họ chuyển hóa thành các tòa nhà cao. Ở thời kì đầu, những người dân Baekjae đã xây nhà với phía trên là những cây gỗ lớn, những căn nhà lều mà được dựng bằng trụ cột chính và lấy từ sàn nhà trong khoảng trống đó. Sau đó, trong thời gian những người Goguryeo di cư thì có sự hợp nhất giữa sàn nhà Baekjae với hệ thống sưởi nền của người Goguryeo. Sàn nhà cùng với hệ thống sưởi nền là đặc trưng của Hanok hiện nay phát triển một cách hiện đại đồng nhất. Sàn nhà cũng với hệ thống sưởi nền như thế được gọi là hình thái hợp nhất Hanok. Nếu trong Hanok mà chỉ có hệ thống sưởi nền và sàn nhà thì gọi là Hanok sơ khai.

- Sau thời kì khai hóa

Sau thời kì khai hóa thì giáo phái Anh - những người thuộc phái Cơ đốc giáo – đi truyền giáo thời kì đầu đấu tranh với những nhà thờ bị dỡ bỏ để được hội nhập sâu rộng vào nền văn hóa của Hàn Quốc. Vì vậy, những ngôi Thánh đường của Anh giáo cũng được xây theo kiểu kiến trúc Hanok như Thánh đường Ganghoa, Thánh đường Jinjeon, Thánh đường Jongju,…được tồn tại đến bây giờ.

Khi đế quốc Nhật xâm chiếm, triều đình Joseon bị suy yếu và đến năm 1970, thuật ngữ Hanok lần đầu tiên được ghi chép lại nhưng việc ghi chép không được mở rộng nhiều.

- Đại Hàn Dân Quốc

Từ cuối những năm 1960, cấu trúc nhà ở của Hàn Quốc bắt đầu thay đổi nhanh chóng với những kiểu nhà chung cư theo kiểu phương Tây. Căn hộ cao tầng mọc lên như nấm trên khắp đất nước từ những năm 1970 nhưng hệ thống ondol vẫn còn phổ biến với đường ống nước nóng tỏa hơi khói dưới sàn nhà.

Sau những năm 1970, trong khi loại bỏ được cái vỏ và nhận thức bằng những kiến trúc không hiệu quả và những tòa nhà cao tầng tàn dư của triều đại cũ của việc học hỏi về Hanok một cách hiện đại thì có nhiều Hanok vẫn tồn tại như một giá trị lịch sử nhưng trong những năm 2000, trong khi có sự nhấn mạnh về hiệu quả sửa chữa và kĩ năng hòa hợp tự nhiên của Hanok thì đang có sự xem xét lại về giá trị của Hanok. Ngày nay, có sự tăng lên lượng người chuyển sang Hanok nhằm giải quyết về bệnh hen suyễn và dị ứng do yếu tố môi trường gây ra và người dân có được sự nhận thức mới về giá trị của Hanok. Ở đất nước Đại Hàn dựa vào năm 2008 việc dự phòng thu mua kiến trúc Hanok đạt tới khoảng 0,77%, thuộc dạng thu mua nhỏ.

Gần đây, nhà vệ sinh hay các thiết bị công cộng kèm hướng dẫn, thậm chí là những quán café của các cơ quan tư nhân được chỉ đạo với một không khí kiểu lỗi bắt chước kiểu dáng Hanok hay chính Hanok. Lịch sử tàu lửa của hiện tại của Nhật Bản được xây dựng bằng hình thức Hanok.

- Cộng Hòa Dân chủ Nhân Dân Triều Tiên

Đặc điểm riêng biệt là có sự bảo tồn làng Hanok truyền thống và quyết định vai trò quan trọng trong hình thức danh lam thắng cảnh với một loại làng truyền thống. Xung quanh này đang có sự tăng trưởng trong việc xây dựng nhà mái ngói.

- Cộng Hòa Dân chủ Trung Hoa

Ở khu vực Đông Bắc Trung Quốc cũng có thể nhìn thấy được Hanok, tuy nhiên những người dân Triều Tiên đã xây dựng nhà cửa với kiểu Hanok của quê hương họ để sinh sống. Hơn nữa, từ năm 2010, ở tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc, đang có sự thúc đẩy quá trình hỗ trợ làng Hanok.

- Hanok với Tôn giáo liên quan

Người dân ở đây đã xây dựng mọi nơi trong nhà với kiến trúc thỏa mãn vị trí các vị thần vì họ tin vào quỷ thần có liên quan đến các thần thánh ấy.

3. Cấu trúc của Hanok

Hanok là kiểu nhà truyền thống của người Hàn Quốc, được xây dựng thân thiện với môi trường với các nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên như gỗ, đất, xương, rơm rạ, đất sét và giấy. Như chúng ta được biết, ngôi nhà của Tổng thống Hàn Quốc được xem như là một hanok, nó được gọi là Cheong Wa Dae, hay là Nhà Xanh vì nó có mái màu xanh đặc trưng.

A. Phân loại Hanok:

Hanok có rất nhiều loại, được phân loại dựa vào vật liệu làm mái nhà, nguyên liệu làm nhà: tường, cách dựng cột,…

· Nhà mái ngói: Nhà mái ngói là nhà được lợp mái bằng ngói. Ngói chủ yếu sử dụng ngói màu đen được làm từ đất sét, hoặc gốm nung trên lửa sau khi nặn từ đất bùn để sử dụng làm nguyên liệu làm mái nhà, tuy nhiên nhà của những người có thân phận cao quý được lợp mái bằng ngói xanh có tráng men gốm xanh. Mái ngói không chỉ tránh mưa mà còn được sử dụng với tính chống lửa và tính bền có thể bảo vệ, duy trì được tường ngoài.

· Nhà mái tranh: Nhà mái tranh là nhà có mái lợp bằng cỏ, rạ, lau v.v. Ban đầu mái được làm từ các thực vật rỗng bên trong như lau, tranh, nhà này còn được gọi là “nhà chim”, hiện nay vẫn còn nhiều nhà mái tranh. Vào mùa hè thì những ngôi nhà có mái tranh rất mát mẻ.

· Nhà lợp mái gỗ: Lá gỗ ở đây là những lát gỗ nhỏ được chặt bằng rìu, đặt xếp lớp lên theo chiều dài miếng gỗ thông có tuổi đời hơn 200 năm. Độ lớn không được quy định nhưng thông thường chiều ngang là 20~30cm, chiều dọc là 40~60cm, độ dày là 5cm. Nhà lợp mái gỗ lợp lát gỗ này lên mái, đẩy dần lá gỗ này về phía cuối nóc rồi đậy lại, xếp đá lên từng chỗ từng chỗ để tránh gió thổi bay. Do đó có ưu điểm là vào mùa hè thì mát mẻ, vào mùa đông thì giữ ấm tốt. Nhà lợp mái gỗ chủ yếu phân bố ở vùng núi nơi khó tìm thấy rơm rạ, nhưng hiện nay hầu như đã biến mất, chỉ còn một phần ở một vùng Samcheok, Gangwondo.

· Nhà mái vỏ sồi: Mái vỏ sồi là từ chỉ vỏ bên trong của cây sồi, cây sồi nâu v.v được lợp mái bằng cách sử dụng vỏ cây này ở vùng đồi núi. Không thể bóc vỏ cây theo một lượng nhất định do đó nhà mái vỏ sồi tạo nên trạng thái mất cân bằng trầm trọng như vừa trải qua trận cuồng phong. Tuy nhiên tuổi thọ khá dài, 20 năm mới phải lợp lại một lần.

· Nhà mái đá: Nhà mái đá là nhà được lợp mái bằng đá hoa cương được cắt mỏng thay cho ngói hay thớ gỗ. Đá hoa cương được sử dụng cả khi lát dưới sàn, nhưng ở một vùng người ta dùng làm nguyên liệu lợp mái.

· Nhà khung: Khung là phương pháp lợp gỗ thông theo chiều dọc và ngang thành hình chữ() từng lơp để làm tường. Nhà khung là nhà được lợp mái trên khung tường được tạo như vậy. Khi làm khung cố định cây lợp ở vị trí được chia đều về hai phía cuối để nó không di chuyển, trét đất giữa các khe cây để chắn gió.

· Nhà hầm: “Hầm” là không gian một nửa chìm dưới đất được đào một phần mặt đất lên. Nhà hầm là nhà có dạng nguyên thủy phần đào xuống đất của nhà hầm được coi như tường, trên đó đặt dui mè để lợp mái. Đây là dạng nhà được dựng nhiều vào thời kỳ đồ đá mới đến thời kỳ đồ đồng khi đó kỹ thuật xây tường theo chiều dựng đứng chưa phát triển, tuy nhiên vào thời cận đại cũng vẫn được dân bình dân thành phố dùng làm nhà ở tạm thời. Nền nhà hầm thường dạng hình chữ nhật hoặc hình tròn, dựng cột thành hai hàng để đỡ khung mái. Kỹ thuật mộc phát triển, cấu trúc nhà cũng trở nên phức tạp, dần dần tường thẳng đứng dựng trên mặt đất.

· Nhà tường: Nhà tường là hình thức nhà đặt mái lên trên tường được xây dầy như tường bao. Nhà mà được chồng lên tường đất gọi là nhà tường đất, nhà chồng lên tường đá gọi là nhà tường đá. Tường đất đặt khung, trong đó trát đất để làm tường, tường đá đặt đá với kích cỡ phù hợp, các khe được trét đất và tạo nên tường. Nhà tường giữ ấm tốt do tường dày, song là cấu trúc khó có cửa hoặc cửa sổ.Do đó phần lớn nhà tường đều dựng khung bằng gỗ chính diện, và mặt còn lại xây tường dày. Ở phần khung chính diện có để cửa ra vào và cửa sổ đón nắng để hoàn thiện cho khuyết điểm của nhà.

B. Đặc điểm của Hanok

· Đặc điểm lớn nhất của Hanok là có cấu trúc kết hợp cân bằng giữa “sàn” làm mát phòng và “ondol-sưởi nền” làm ấm phòng. Đây là hình thức nhà ở độc đáo của Hàn Quốc nhằm giải quyết khí hậu đất liền và khí hậu đại dương cùng tồn tại trên bán đảo Hàn. Hình thái của Hanok khác nhau về cấu trúc theo từng vùng. Phát triển các loại Hanok mái thấp và cấu trúc nhiều gian bố trí phòng theo hai hàng và cấu trúc chắn gió lạnh bên ngoài và duy trì hiệu quả nhất hơi ấm ở bên trong đối với vùng miền bắc. Ngược lại ở miền nam lại phát triển cấu trúc nhà với sàn và cấu tạo nhà một gian bố trí phòng theo một hàng để đón gió. Và chúng ta cũng có thể tìm thấy đặc điểm về nguyên vật liệu xây nhà. Nguyên liệu để dựng lên Hanok sử dụng những loại nguyên vật liệu dễ dàng tìm thấy nhất như là đá, đất, gỗ, cột, kèo, cửa, sàn đại sảnh sử dụng gỗ, tường đất được làm từ đất và rơm trộn lẫn với nhau, cửa sổ được dán giấy của Hàn(hanji) làm từ cây gỗ nghìn năm. Ở sàn sau khi trải giấy Hàn(Hanji) được phủ bóng bằng dầu đậu nành, và lớp dầu này cũng có tác dụng chống thấm

· Ondol–Hệ thống sưởi sàn: Nếu kể đến đặc điểm lớn nhất của Hanok thì đương nhiên phải kể đến hệ thống sưởi nền Gudeuljang và hệ thống sưởi sàn. Nguyên lý của Ondol là nguyên lý truyền nhiệt bằng nhiệt độ được truyền tới đá trải dưới sàn nhà theo phương pháp sử dụng đồng thời đối lưu và bức xạ, cùng với sự đối ngược của nhiệt, việc truyền bức xạ nhiệt tới toàn thể phòng bằng nhiệt độ sàn là hiện tượng bức xạ. Nghĩa là phương pháp làm ấm phòng duy trì nhiệt độ ấm áp thông qua hiện tượng đối lưu không khí. Đặt Gudeuljang bằng đá phẳng và rộng dưới sàn phòng, sau khi trát đất trên đó, mỗi lần có lửa và khói từ bếp lò, nhiệt ấm sẽ luồn qua hệ thống đá lát dưới sàn Gudeuljang này để làm ấm sàn phòng, khói ở bếp sẽ thoát ra theo đường ống khói. Phương pháp tạo Ondol không chỉ đơn giản mà đất sét chất lượng tốt, đá hoa cương là nguyên liệu tạo nên Ondol cũng vô cùng phong phú, đây cũng là những nguyên liệu dễ kiếm, vốn dĩ ban đầu được bắt đầu từ sở hữu riêng của tầng lớp nghèo, tuy nhiên sau đó được phổ biến thành hệ thống làm ấm phòng phổ cập chung đến tận tầng lớp quý tộc. Ngoài ra, vào mùa hè Ondol giữ nguyên không khí mát để khi ngồi lên trên Ondol cơ thể có thể cảm nhận được cảm giác mát mẻ. Đặc biệt ngay bản thân sàn cũng thể tăng nhiệt độ nên cũng có điểm thuận lợi là không cần lắp đặt thiết bị thoát nhiệt riêng biệt mà vẫn cảm thấy mát.

· Sàn ở Hanok là đường đi nối giữa các không gian với nhau cũng vừa là đường gió di chuyển. Vì thế sàn Hanok trong mùa hè nóng bức chính là không gian làm nguội đi cái nóng mùa hè. Sàn còn được gọi là Maruneol hay Cheongpan, chính là loại sàn được cấu tạo từ các bản gỗ, phong tục dựng sàn cao hơn so với mặt đất để tránh độ ẩm ở vùng miền nam nhiệt độ cao, độ ẩm nhiều đã được lưu truyền tới miền bắc. Gỗ sử dụng ở sàn phải đủ khô, sau 3 tháng, 6 tháng, đến 2 năm cũng không bị hở khe, và sử dụng được lâu. Sàn được phân chia thành nhiều chủng loại tùy theo phương thức chia khung, và vị trí chia khung. Sàn dài, sàn giếng là phân loại theo phương pháp chia khung, sàn Darak, sàn đại sảnh, sàn trên, sàn hẹp chạy dọc nhà, sàn cạnh là phân loại theo vị trí. Sàn đại sảnh là không gian rộng nhất đi qua tất cả các cạnh và là trung tâm của ngôi nhà. Và cũng vừa là không gian hoàn thiện, vừa là không gian nối các phòng trong, phòng đối diện đại sảnh, phòng của nam giới, sàn trên, phòng và sân. Khi thời tiết nóng, không gian ăn cơm được chuyển từ phòng trong ra ngoài đại sảnh, ngủ cũng ngủ ở đại sảnh. Nơi đây trở thành không gian trung tâm của sinh hoạt thường nhật như ngủ, làm việc, nghỉ ngơi, đọc sách mà còn trở thành nơi kiểm soát hoạt động không thường nhật như tiếp khách, hội họp. Tùy theo từng vùng mà có cửa ở đại sảnh hay không nhưng trước sau nếu mở hết thì không khí mát sẽ tràn vào và có thể tận hưởng mùa hè mát mẻ hơn nữa.

· Ống khói là thiết bị thẳng đứng dựng ở bên ngoài để đẩy khói của các vật bị cháy ra ngoài, hoặc để chặn gió vào bếp, và đón không khí cần thiết để lửa cháy. Ở khu dân cư, tuân thủ tuyệt đối với chức năng thoát khói lên trên mái hoặc sân sau không nhìn thấy, nhưng ở nhà của tứ đại phu hoặc cung điện, hoặc đền chùa thì mang tính trang trí nhiều hơn.Trong đó ống khói Amisan của Gyeongbukgung, Nakseonjae của Changdeokgung, hậu viên Deajojeon của Changdeokgung, Jagyeongjeon của Gyeongbukgung rất gần với đồ mỹ nghệ. Đặc biệt ống khói Amisan của Gyeongbukgung được trang trí rất đẹp bằng hoa văn cỏ cây, phượng hoàng, chữ , thập trường sinh, bốn loại cây ở trên thân ông khói hình lục giác. Bài trí bằng tạo hình cầm thú tượng trưng cho may mắn xua đuổi ác quỷ và hoa văn cát tường như phú quý hay trường thọ, trên nóc cấu tạo cả Liên Gia. Có thể gọi hậu viên là Baekmi (Bạch mĩ) nổi lên với cái tên Amisan là núi đẹp nhất ở Trung Quốc. Ở nhà giàu thì ống khói xuyên qua lớp lớp ngói và gạch trồi lên trên kèo, ống khói trở thành biểu tượng cho quyền uy do người ta có thể biết được vị thế dù nhìn từ bên ngoài tường rào thông qua ống khói. Chiều cao của ống khói phụ thuộc vào gió. Khu vực giữa núi non, thì đặt cao hơn sàn mái, vùng đồng bằng thì đặt chiều cao bằng kèo hoặc cao hơn chút. Nếu núi cao, thì ống khói cũng phải cao để ít bị ảnh hưởng của gió, để lửa dễ cháy.

a. Cấu trúc của Hanok:

· Phòng trong:

Phòng trong là không gian phía trong được bố trí ở phía trong cùng từ cửa lớn vào, được coi là không gian dành cho phụ nữ chủ gia đình, thông thường được cấu tạo thành phòng trong, đại sảnh trong, phòng đối diện đại sảnh, bếp. Phòng trong được đặt ở vị trí quan trọng trong ngôi nhà.

· Phòng tiếp khách:

Phòng khách được sử dụng làm nơi tiếp khách ăn ở từ bên ngoài đến, hoặc là nơi hội họp của hàng xóm, họ hàng để thể hiện tình thân thiết, cũng là nơi người lớn trong nhà dạy bảo, nuôi dưỡng con cái. Hơn nữa, phòng khách được sử dụng để những người đàn ông lớn tuổi tập trung cùng nhau thảo luận về một vấn đề hội họa, văn thơ.

· Từ đường:

Cùng với văn hóa thờ cúng tổ tiên, người ta cũng chuẩn bị không gian nghi lễ được gọi là “Từ đường” được đặt ở nơi cao nhất phía sau phòng khách, hoặc phía sau đại sảnh trong của phòng trong, phía trong cùng từ cổng lớn đi vào. Thông thường ở từ đường có thờ bốn bài vị, từ phía Tây, bài vị của kị, bài vị của cụ, bài vị của ông, và cuối cùng là thờ bài vị của bố mẹ. Trước mỗi bài vị đặt một bàn, và lư hương được đặt trước bài vị đời cao nhất. Nhà của giới thượng, trung lưu cũng có xây từ đường theo luật gia miếu, nhưng cũng có những nhà không có từ đường, những nhà như vậy đặt bình phong ở sàn đại sảnh và thờ bài vị.

· Phòng dưới: Nhà ở truyền thống bị ảnh hưởng bởi chế độ thân phận nên cũng bố trí các không gian khác nhau tùy theo thân phận cao hay thấp. Nhà có điều kiện dư giả về kinh tế, ngoài phòng trong và phòng tiếp khách ra, còn có phòng dưới dùng làm kho chứa lương thực hoặc là nơi ở của người ở. Nhà cho tầng lớp thượng lưu như thế này được phân chia không gian theo thân phận và giới tính nam nữ, theo lứa tuổi già trẻ, và đây là không gian được bố trí sinh hoạt gia đình rất phù hợp cho đại gia đình sống chung thời đó.

· Phòng riêng: Đối với nhà rộng rãi, phòng riêng được bố trí ở phía sau nhà, phía sau của nhà trong, tùy theo người sử dụng mà tên gọi của nó cũng khác nhau. Phòng riêng con gái ở trước khi lấy chồng được gọi là Sơ đường (Chodang). Cũng có những nhà bố trí riêng phòng này thành phòng Thư đường (Seodang) để tiện cho việc học chữ của con trai trước khi kết hôn.

· Nhà kho: Trong số nhà của tầng lớp trung lưu, thượng lưu, những nhà giàu sống trong những ngôi nhà có quy mô hàng chục ngăn. Ở những nhà truyền thống mà có nhiều “ngăn” nhà kho được bố trí riêng biệt, là nơi bảo quản, lưu giữ các dụng phẩm sinh hoạt, hoặc đồ ăn cần bảo quản lâu.

C. Cấu tạo chi tiết của Hanok

· Bậc thềm: Xây dựng nhà để xếp đá hoặc đất trên mặt đất, tạo thành nơi vững chãi có hình dạng nổi hẳn lên trên, có tác dụng ngăn độ ẩm cũng như tránh ngập nước cho ngôi nhà.

· Đá kê chân cột: Là viên đá được xếp để đỡ cột sau khi đầm đất (móng) khi xây nhà truyền thống.

· Lỗ thông gió: Khi nhóm lửa ở nhà truyền thống, để lửa cháy cũng như khói thông, dưới lớp đá lát sàn, người ta tạo một đường, đây được gọi là lỗ thông gió, và đôi khi gọi tắt là thông gió.

· Đá lát dưới sàn: Ở nhà truyền thống, lớp đá mỏng và rộng được đặt ở dưới nền phòng được gọi là đá lát dưới sàn, trên phần thông gió trải viên đá rộng để tạo sàn phòng, khi nhóm lửa ở bếp, giữ nhiệt cho ngôi nhà bằng cách làm nóng những viên đá này.

· Mạng nhện: Là tên gọi của cái giữa các lớp đá lát sàn với nhau được lấp đầy bằng đất sét, để lửa hoặc khói không thoát ra, và mạng nhện là cái tên được lấy do nó khá giống với việc nhện đan mạng giữa các lớp đá lát sàn.

· Dui mè: Là phần cây thông được nối từ dầm mái đến đòn tay, phần lòi ra đòn tay được gọi là Chunyeo.

· Đòn tay: Phần cây gỗ nối giữa cột này với cột khác được gọi là đòn tay. Có đòn tay trung, đòn tay cao, đòn tay thấp.

· Xà ngang: Dầm quan trọng nhất, nghĩa là dầm nối các cột trung tâm đâm ngang giữa nhà.

· Đại sảnh: Là tên gọi sàn trước phòng trung tâm trong nhà.

· Nóc nhà: Là tấm được kết bằng rơm che từ phần cuối cùng của mái đến phần đầu tiên của tường, nó giống với hình dạng của con rồng uốn lượn nên được gọi là Yongmareum.

4. Ứng dụng của Hanok trong xã hội Hàn Quốc ngày nay

Hanok- nhà truyền thống của xứ sở kim chi với lối kiến trúc độc đáo, hoà hợp với thiên nhiên, được xây dựng một cách khoa học phù hợp với môi trường và sinh hoạt của người dân Hàn Quốc đã và đang trở thành một biểu tượng văn hoá không thể thiếu ở nơi đây. Trải qua hàng trăm năm tồn tại, bảo tồn và phát triển thì ngày nay Hanok đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Ngoài làm nhà ở người ta còn biến Hanok trở thành những nhà hàng, chùa, điểm du lịch thu hút rất nhiều du khách từ khắp mọi nơi trên thế giới, tận dụng hanok làm “khạch sạn” cho khách du lịch, làm co sỏ để sáng tại kiến trúc và nghiên cứu khoa học.

· Sáng tạo kiến trúc:

Với thiết kế vừa khoa học xuất sắc vừa thân thiện với môi trường sống, Hanok không chỉ là một nét văn hóa truyền thống cổ xưa của Hàn Quốc mà nó còn được ứng dụng hiệu quả trong xã hội hiện đại ngày nay. Các nhà kiến trúc sư đã dựa trên cơ sở thiết kế của Hanok để sáng tạo nên những ngôi nhà là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.

+ Một ngôi nhà ở Macheon: (bởi Studio Gaon, Hamyang-gun, Hàn Quốc )

Ngôi nhà hiện đại được các kiến trúc sư lên kế hoạch thực hiện vẫn giữ được những nét độc đáo trong cấu trúc của Hanok. Nhà được xây dựa trên sự quan sát về mặt phong thủy, hướng núi với kiểu cửa đẩy rộng giúp cho người ở có thể dễ dàng quan sát được khung cảnh bên ngoài.

+ Nhà Lucia’s Earth (bởi Studio Gaon, Kongju, Hàn quốc):

Dù được xây dựng theo lối kiến trúc nhà ở hiện đại ngày nay nhưng Lucia’s Earth vẫn còn giữ lại chút riêng của ngôi nhà truyền thống với mái ngói và sàn gỗ.

+ Cherry Blossom Nhà của TRU Architects , Chungcheonbuk-do, Hàn Quốc:

Loại gỗ mái đầu hồi mạ ngói màu xám cộng hưởng với kiến trúc Hanok. Một sàn tầng trệt cũng như trên các tầng trên ngay bên dưới mái nhà cung cấp một không gian thoáng mát để thư giãn trong mùa hè nóng. Các cửa sổ nhỏ ở đài quan sát khung vùng núi ở phía xa. (Nguồn: http://architizer.com/blog/neo-traditional-korean-homes/).

+ Một kiểu nhà hiện đại thật sự cộng hưởng với kiến trúc của Hanok, mái nhà đã được trừu tượng hóa.Nó cũng sử dụng sân nhà ở truyền thống của Hàn Quốc bằng cách đưa bản chất bên trong thay vì rập khuôn những gì tồn tại bên ngoài các bức tường.

Nhà Ga On Ja ở Kwangmyong, Hàn Quốc.

· Điểm tham quan du lịch

· Một số làng Hanok mà các bạn có thể đến tham quan du lịch:

+ Ngày nay, Hanok đã được phục hồi lại nhiều để bảo tồn và phục vụ cho mục đích du lịch, giữ gìn nét đẹp truyền thống văn hoá. Nhà Hanok mái tranh chỉ còn được nhìn thấy trong các khu bảo tồn. Thay vào đó, ta chỉ có thể chiêm ngưỡng những mái nhà Hanok bằng ngói ở các làng truyền thống của Hàn Quốc như: làng Hanok Namsangol, làng Hanok Bukchon,...Ở Namsangol, làng Hanok còn được gọi là “làng truyền thống ở thung lũng Namsan”, nằm trong khu vực phố Pildong, quận Junggu, thuộc khu vực trung tâm của thủ đô Seoul. Làng Hanok Namsangol gồm có 5 ngôi nhà truyền thống bao gồm cả dinh thự của các quan lại triều đình và nhà của thường dân từ thời Joseon (1392-1897) đã được phục chế để làm khu du lịch cho khách tham quan và trải nghiệm chân thực cuộc sống và những sinh hoạt hằng ngày của người dân thời xưa. Trước đây, làng là khu nghỉ mát mùa hè của triều đại Joseon mang tên Jeonghakdong, được coi là một trong năm địa điểm đẹp nhất Seoul. Đến với ngôi nhà truyền thống này, ngoài tham quan du khách còn được tham gia vào các trò chơi truyền thống của Hàn Quốc: làm đồ mĩ nghệ bằng giấy Hanji, chơi trò chơi, nhạc cụ truyền thống, viết thư pháp, thưởng thức trà đạo,... Trong năm 2011, trong một cuộc khảo sát được tiến hành bởi Viện Phát triển Seoul, trong đó bao gồm 800 người dân và 103 kiến trúc sư quy hoạch đô thị thì có 52,4% bình chọn đây là một trong số những phong cảnh đẹp nhất ở Seoul, sau Namsan, sông Hàn Cung điện Gyeongbokgung.[3] Du khách có thể đến đây vào tất cả các ngày trong tuần trừ thứ 3 là ngày nghỉ. Tại đây gần Ga Chungmuro, đáp ứngTàu điện ngầm Seoul tuyến 3 tuyến 4. (Trích nguồn: http://m.korea.net/vietnamese/AboutKorea/Living-in-Korea/Experiencing-Korean-Traditional-Culture).

Hình ảnh nhà truyền thống tại làng Hanok Namsangol

+ Làng Hanok Bukchon ở phía Bắc quận Jongno và suối Cheonggye, ở vị trí giữa cung điện Gyeongbok và Changdeok, thuộc thủ đô Seoul. Bukchon là khu vực còn giữ lại được nhiều nhà truyền thống nhất với 900 ngôi nhà, chiếm diện tích khoảng 113 ha, gồm phường Gahoe và 5 phường khác. Đây là nơi mà giới quý tộc và quan viên đã chọn làm nơi sinh sống dưới thời Joseon vì nó ở gần hoàng cung và có môi trường sống thuận lợi. Cũng giống như làng Hanok Namsangol, làng Bukchon ngày nay được sử dụng cho mục đích du lịch, cho phép mọi người tham quan, trải nghiệm cuộc sống như thời Joseon. Một cuộc thăm dò đối với gần 2.000 du khách nước ngoài do chính quyền thủ đô Seoul thực hiện trong tháng 11 năm 2011, hầu hết đều nói rằng, khám phá những con phố chật hẹp của Bukchon là hoạt động yêu thích thứ tư của họ tại Seoul. Theo số liệu của Trung tâm Văn hóa truyền thống Bukchon, 30.000 người đã ghé thăm khu vực vào năm 2007. Tuy nhiên, sau khi ngôi làng xuất hiện trong những chương trình truyền hình, chẳng hạn như 2 Days & 1 Night Personal Taste, số lượng đã tăng lên 318.000 người vào năm 2010. Trong năm 2012 con số dự kiến sẽ tăng gấp đôi, lên hơn 600.000 người. (Trích nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A0ng_Hanok_Bukchon).

+ Làng dân gian Yongin thuộc quận Giheung, thành phố Yongin, tỉnh Gyeonggi là một nơi nổi tiếng với du khách trong và ngoài nước với khung cảnh đẹp, hòa hợp với thiên nhiên, mang đậm nét cổ xưa. Làng có diện tích 990.000m2, được xây dựng để tái thiết lại một cách rõ nét và chân thật nhất về cuộc sống của người dân, vua quan dưới triều đại Joseon (1392-1910). Gồm có các nông trang, nhà của dân thường, nhà của giới quý tộc, cơ quan hành chính, giảng đường, phòng khám đông y, chợ,… Điều đặc biệt là làng dân tộc Yongin có cả các nhà mái rơm. Chính vì vậy mà làng Yongin cũng trở thành một điểm đến lí tưởng cho du khách trong và ngoài nước quay ngược thời gian về lịch sử. Ngoài ra, những ngôi nhà Hanok nơi đây còn được sử dụng để quay phim cổ trang như Dae Jang Geum.

+ Làng cổ Hahoe:

Làng cổ Hahoe và Yangdong nằm ở Andong, Gyeongsangbuk-do, gần núi Namsan. Nếu nhìn tổng thể của Hahoe, ta có thể thấy hình dạng của làng giống như một bông hoa sen. Cũng giống như những ngôi làng cổ khác, nơi đây cũng gồm nhà của quý tộc và nhà cho thường dân. Quý tộc được ở nhà bằng gỗ còn thứ dân thì ở những ngôi nhà làm bằng bùn, đất. Nếu như làng Hahoe là làng ven sông, chạy theo con sông Nakdong thì làng Yangdong lại nằm dưới chân dải núi. Đối với làng Yangdong, nhà của quý tộc được xây ở vị trí cao hơn nhà cho dân thường để thể hiện sự phân chia giai cấp rõ ràng của triều đại Joseon. Nữ hoàng Elizabeth và cựu Tổng thống Mỹ George Bush đã đến thăm nơi này vào năm 1999 và 2005. Năm 2010, hai ngôi làng gia tộc lịch sử này đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Làng cổ Hanok không chỉ là điểm đến tham quan khám phá mà còn được xem như là bảo tàng văn hóa truyền thống lịch sử của người dân xứ sở kim chi.

.- Bên cạnh đó, còn có nhiều ngôi nhà Hanok khác được tôn tạo thành các quán cafe, quán trà, nhà hàng theo phong cách truyền thống,…

+Quán café LN Bukchon, quận Jongno, Seoul

+Nhà trà truyền thống Dawon được điều hành bởi Kyung trong bảo tàng Mĩ thuật, ở Insadong, quận Jongno, Seoul.

+Nhà Hanok Smith ở Samcheong là nhà hàng phục vụ các món Ý như pizza hay pasta, một sự kết hợp giữa nét truyền thống của Hàn Quốc với sự hiện đại của phương Tây.

5. Quá trình trùng tu và bảo tồn Hanok

Trải qua hàng trăm năm kể từ khi được xây dựng, Hanok đã vượt qua một quá trình lâu dài bị phá hủy do chiến tranh, thời gian và được phục hồi, bảo tồn để có thể tồn tại, phát triển và được ứng dụng một cách rộng rãi như hôm nay. Tuy là không thể hồi phục lại toàn vẹn như cũ nhưng những ngôi nhà truyền hống Hanok ngày nay đã một phần nào tái hiện lại được hình ảnh thời xưa của Hàn Quốc và góp phần vào việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Trong đó, làng hanok Bukchon là một ví dụ điển hình. Bắt đầu từ năm 2000, chính quyền thành phố Seoul đã bắt tay vào dự án xây dựng lại làng Hanok tại khu Bukchon và đến năm 2001 thì nó được mọi người biết đến như một địa điểm du lịch. Đã có 303 ngôi nhà truyền thống được tu bổ lại trong vòng 10 năm qua. Chủ nhiệm Choi Yong-hun phụ trách phát triển du lịch của Chính quyền thành phố Seoul cho biết: “Khi đó từng ngôi nhà một dần dần biến mất. Năm 2000, chúng tôi đã khởi động dự án xây dựng làng Bukchon. Đến năm 2006, làng được xây dựng theo kế hoach phát triển dài hạn khu Bukchon và đến năm 2008 thì Seoul đã ra tuyên bố chính thức về nhà truyền thống Hanok. Thành phố đã tiến hành cơ chế đăng ký nhà Hanok, hỗ trợ kinh phí xây mới và tu bổ. Số tiền hỗ trợ khoảng hơn 10 triệu USD, cùng với số tiền để mua và đưa vào sử dụng các ngôi nhà có nguy cơ sắp mất là hơn 23 triệu USD. Qua một loạt chương trình như dự án tu bổ phố nhà truyền thống, tổ chức giảng dạy văn hóa truyền thống, hoạt động trải nghiệm văn hóa cho người nước ngoài, hay lên kế hoạch xây dựng các cụm nhà truyền thống. Thành phố Seoul đã cố gắng để nhà Hanok không bị mai một”. Những nỗ lực gìn giữ lịch sử của Chính quyền thành phố Seoul đã được đền đáp vào năm 2009, khi dự án cải tạo Buchon được UNESCO trao giải xuất sắc về bảo tồn di sản văn hóa châu Á Thái Bính Dương. Những ngôi nhà Hanok hiện còn lại ở Bukchon đa phần được xây dựng vào những năm 1930. Sở dĩ do trải qua thời kỳ Nhật thuộc, nhiều ngôi nhà cổ và nguy nga của Bukchon đã bị phá hủy hoặc bị chia nhỏ ra để bán. Hướng dẫn viên Eom Hong-ryeol giải thích: “Năm 1910 là thời kỳ mất nước, những người quyền cao chức trọng phải bán nhà mà bỏ đi chỗ khác. Mua lại nhà ở đây chính là các tay buôn nhà đất người Nhật. Họ mua lại, phá bỏ toàn bộ, đem cột kèo và xà nhà ra bán, rồi xây lên những tòa nhà khoảng từ hơn 150 đến 250 mét vuông, chưa gọi đây là nhà truyền thống được... Lúc đó, đây thường là nhà của tầng lớp trung lưu.” (Trích nguồn: http://world.kbs.co.kr/vietnamese/archive/program/program_touringseoul.htm?no=13169

). Với quá trình bảo tồn và phát triển ngày càng mạnh mẽ như hiện nay thì nhà truyền thống Hanok sẽ còn được lưu giữ lâu dài, góp phần vào việc lưu giữ những nét độc đáo trong văn hóa dân tộc đồng thời phát triển du lịch, quảng bá đến bạn bè thế giới.

NHÀ Ở NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

1. Định nghĩa: Nhà ở nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ là kiểu nhà truyền thống dân gian đặc trưng của Việt Nam được xây dựng trên mặt đất. Nhóm dân tộc tiêu biểu sinh sống trong kiểu nhà này là dân tộc Việt.

2. Lịch sử và điều kiện hình thành:

Đồng bằng Bắc Bộ là nơi có nền văn hoá lâu đời, là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn cho bao thế hệ người Việt. Xã hội người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ được tổ chức chặt chẽ với kết cấu làng. Một làng gồm hàng trăm hộ cùng sinh sống trong khuôn viên có luỹ tre bao bọc như một bức tường thành vững chắc bảo vệ làng khỏi mọi nguy hiểm rình rập bên ngoài, đồng thời tạo không gian tươi mát cho khuôn viên làng. Bên trong làng là lối kiến trúc nhà ở đặc trưng của Đồng bằng Bắc Bộ. Lối kiến trúc này đã được hình thành và phát triển qua một tiến trình lịch sử lâu đời, phù hợp với môi trường tự nhiên của Việt Nam ( điều kiện khí hậu, địa hình,…) và nhu cầu văn hoá – xã hội của người dân ( sinh hoạt, văn hoá, tín ngưỡng,…).

Tiến trình hình thành và phát triển của kiến trúc nhà nông thôn trải qua ba giai đoạn chủ yếu:

- Kiến trúc nhà ở nông thôn trước năm 1954: Để xây dựng ngôi nhà ở nông thôn vùng Đồng bằng Bắc Bộ, người nông dân phải tích luỹ vốn sống từ hàng ngàn đời trước, ngôi nhà sau khi xây dựng không những phù hợp, hài hoà với thiên nhiên, che chắn nắng mưa mà xét về mặt phong thuỷ cũng rất phù hợp, tạo thành một hệ sinh thái bền vững.

- Kiến trúc nhà ở nông thôn giai đoạn 1954-1985: Không có thay đổi đáng kể so với giai đoạn trước năm 1954, “các yếu tố cấu thành nên hình thái khuôn viên khu đất và kiến trúc công trình đều phát triển theo phong cách đặc thù của kiến trúc nhà ở nông thôn”. Chỉ có vật liệu xây dựng và đồ nội thất trong nhà là thay đổi để phù hợp với nhu cầu thiết yếu của người dân theo trình độ phát triển của xã hội.

- Giai đoạn sau năm 1985 đến nay: kiến trúc nhà ở nông thôn đang dần bị lãng quên trong quy hoạch cũng như định hướng lâu dài, thay vào đó là sự xuất hiện và xâm lấn của các lối kiến trúc nhà hiện đại.

3. Cấu trúc nhà ở đồng bằng Bắc Bộ

A. Tổ chức mặt bằng kiến trúc

Kiến trúc những ngôi nhà ở nông thôn vùng Đồng bằng Bắc Bộ là những ngôi nhà một tầng thô sơ, nền làm sát mặt đất, vật liệu chủ yếu là tre, nứa lá, rơm rạ, giàu hơn thì gỗ, gạch mái ngói. Với cách tổ chức mặt bằng, thường nằm trong khuôn viên được bao bọc bởi tường gạch hoặc rào dâm bụt cắt tỉa, cổng ra v ào có mái che lợp ngói, cánh bằng gỗ; khu đất có diện tích rộng từ 3 –5 sào (1.000 –3.000 m2) bên trong gồm có nhà chính, các nhà phụ, sân gạch, ao cá, vườn cây, các công trình chuồng trại, nhà vệ sinh... Nhà chính, nhà phụ được xây dựng giữa khuôn viên khu đất và quay mặt về hướng Nam hoặc Đông.

Nhà chính từ 5 đến 7 gian, nhà hai mái hoặc hai chái, hai chái lợp ngói mũi, bên dưới có ngói liệt (cách lợp mái 2 lớp theo phương pháp này cho ta hiệu quả thông gió rất tốt về mùa hè). Kết cấu vì kèo của ngôi nhà bằng gỗ, vách tường gỗ hoặc xây bằng gạch đất nung, nền lát gạch bát. Gian giữa của ngôi nhà bố trí bàn thờ tổ tiên và bàn ghế tiếp khách, hai gian bên đặt giường ngủ cho chủ nhà và con trai lớn; hai phòng phụ còn lại, một phòng để đồ đạc quý hoặc lúa thóc, phòng kia là phòng ngủ của phụ nữ và con gái, sau này khi con trai lớn xây dựng gia đình thì phòng ngủ này sẽ dành riêng cho gia đình mới. Nhà chính quay mặt về hướng Nam nhìn ra sân rộng trước nhà; phía trước sân là ao, vườn cây ăn quả, bể nước mưa, giếng nước khơi... Phía vườn trước trồng cây cau, giàn trầu. Cây cau vừa có giá trị thẩm mỹ về cảnh quan, vừa lấy bóng mát về mùa hè, tán cây cau có tác dụng như cái ô che nắng nhưng vẫn cho gió nồm hướng Nam thổi vào trong nhà ở phía phần thân gỗ của cây cau. Phía sau ngôi nhà chính là hướng Bắc, là hướng gió lạnh về mùa đông, nên được trồng cây chuối có lá to bản, cây lại thấp nên có thể che bớt gió lạnh. “Chuối sau, Cau trước” là câu lưu truyền nhắc nhở các thế hệ sau này lưu tâm đến tổ chức cảnh quan ngôi nhà và cách giải quyết vi khí hậu cho ngôi nhà ở. Phía sau của ngôi nhà ở là các công trình phụ trợ như: chuồng trại chăn nuôi gia súc, nhà để dụng cụ làm nông nghiệp, nhà kho và nhà vệ sinh.

Nhà phụ hay còn được gọi là nhà ngang kéo dài 3 -5 gian (từ 1 -2 nhà), nền nhà phụ thường thấp hơn nền nhà chính, chiều cao mái cũng thấp hơn, mái lợp ngói đối với nhà giàu có và lợp rạ, cói đối với nhà trung lưu lớp dưới. Nhà phụ là nơi nấu ăn, bếp, phòng ăn, nơi ngủ của phụ nữ, người giúp việc trong nhà. Ngoài ra, nhà phụ còn là nơi làm các công việc thủ công lúc nông nhàn như dệt vải, dệt cửi, đan lát, thêu thùa; một không gian trong nhà phụ đặt cối xay thóc.

1. Cấu trúc ngôi nhà

Thông thường, nhà ở dân gian miền bắc được xây dựng kiểu hai mái với mặt bằng bố cục đối xứng và số gian lẻ (3, 5, 7) bao gồm ba gian giữa và hai gian buồng nằm về hai phía của gian giữa. Phía trước nhà thường có thêm một hàng hiên chạy dài suốt chiều ngang mặt đứng. Bên trong nhà, gi ữa gian giữa và hai gian buồng được ngăn cách bởi vách ngăn bằng gỗ (bức thuận), mặt hướng ra gian giữa được chạm trổ công phu. Phía trong cùng của gian giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên. Không gian hai bên và phía trước của bàn thờ được đặt các bộ phản hoặc bàn ghế là nơi tiếp khách và chỗ ngủ của chủ nhà.

Có 3 nét đặc trưng của kiến trúc cổ Việt Nam làm ta phân biệt trong nền kiến trúc gỗ cổ phương Đông: dốc mái thẳng; dùng bảy, kẻ đỡ mái hiên; cột mập to, phình ở phần giữa thân dưới.

- Mái nhà

Triền mái của kiến trúc cổ Việt Nam thẳng, không cong, nhưng hếch lên ở góc mái tạo sự thanh thoát, l ấy cảm hứng từ mũi thuyền của nền văn hóa sông nước. Phần mái lớn và thường chiếm tới 2/3 chiều cao mặt đứng công trình, nhất là đối với mái đình. Trong khi kiến trúc Trung Hoa mái cong và chỉ hơi hếch ở góc mái. Ngói lợp mái truyền thống Việt Nam là ngói mũi hài còn gọi là ngói vẩy rồng trong khi ngói lợp Trung Hoa là ngói âm dươnghay ngói ống. Trang trí trên mái cổ thường có các phần đặc trưng như những con giống gắn trên đầu đao, trong đó con giống luôn là hình tượng thể hiện tinh thần ngôi nhà, được làm từ đất nung hanh vữa truyền thống. Tiếp theo là các bờ nóc có đặt gạch hoa chanh, đỉnh mái gắn con kìm, con sô, con náp, hay lạc long thủy quái. Khu đĩ thường để trống thông thoáng và có chạm yếm trang trí gọi là vỉ ruồi. Đỡ mái hiên bằng kẻ, hay bảy (một thanh chéo đỡ mái hiên vươn ra bằng nguyên tắc đòn bảy). Không dùng hệ đấu-củng rất nhiều chi tiết như Trung Hoa.

- Cột :

Cột là phần đỡ chính của công trình, toàn bộ khối lượng công trình đều đặt lên các cột. Cột tròn và to mập, phình ở giữa. Sức nặngcông trình được đặt lên cột, cột đặt lên các đế chân cột chứ không chôn xuống nền và chính sức nặng của công trình làm công trình ổn định và vững vàng.

Căn nhà được xây dựng theo các vì nhà, sau đó các vì được dựng lên và nối với nhau bằng các xà ngang và xà ngưỡng tạo thành một hình hộp, sau đố là lợp mái và làm tường nhà. Vì nhà chính là đơn vị cơ bản khi nói đến kích thước ngôi nhà, giữa hai vì gọi là "gian". Vì nhà cũng là đặc trưng cho lối kiển trúc theo từng địa phương và từng thời kỳ, tuy rất trung thành với thức kiến trúc cổ Việt Nam.

- Chi tiết cột gỗ

+ Chạm khắc:

Trong thức kiến trúc cổ Việt Nam chạm trổ là phần rất quan trọng, nó thể hiện tinh thần công trình. So với kiến trúc Trung Hoa thích vẽ hình và sơn mầu sặc sỡ, kiến trúc cổ Việt Nam thường để mộc mầu gỗ hay quét sơn ta bảo vệ có mầu nâu, thích chạm trổ.

+ Thước tầm :

Trong thức kiến trúc cổ Việt Nam, tất cả các kích thước tính của công trình đều dựa theo "thước tầm", một cây thước được tính theo kích thước cơ thể gia chủ. Đây là một điều độc đáo, theo cách phân tích cái đẹp tỷ lệ thì thước tầm là modulor của kiến trúc cổ Việt Nam như modulor của kiến trúc Hy Lạp, tạo ra vẻ đẹp hình học tinh tế như độ dốc mái, tỉ lệ chiều cao mái với phần chân cột, sự thích hợp với người gia chủ.

Với những đặc trưng rất riêng kiến trúc cổ Việt Nam nói chung và kiến trúc nhà ở nông thôn vùng đồng bằng bắc bộ nói chung đã cho thấy nét văn hóa của người Việt, khẳng định tính truyền thống, thẩm mỹ cũng như công năng sử dụng của kiến trúc Việt cổ. Việc kế thừa và phát huy những tinh hoa trong kiến trúc, áp dụng vào cuộc sống hiện đại, phù hợp với sự phát triển cũng như sinh hoạt của nông dân Việt Nam là hết sức cấp thiết.

B. Ý NGHĨA VÀ ỨNG DỤNG

Nhà là nơi diễn ra những sự kiện quan trọng của một đời người (sinh, hôn, tử). Vì thế, ngôi nhà không chỉ có ý nghĩa đối với gia đình mà còn mang ý nghĩa rất quan trọng đối với xã hội, không chỉ đáp ứng nhu cầu về vật chất mà còn đáp ứng nhu cầu tinh thần, tâm linh của con người.

Về mặt vật chất, nhà cung cấp cho con người nơi sống, làm việc, noi cất giữ lương thực, tài sản, đảm bảo cho cuộc sống đầy đủ. Nhà là nơi che chở, bảo vệ con người khỏi những thiên tai, tránh thú dữ,…

Về mặt tinh thần, nhà cung cấp cho con người không gian sinh hoạt gia đình, nơi tổ chức các sự kiện quan trọng, nơi thờ cúng tổ tiên, thần linh,… Không những thế, nhà còn là không gian nuôi dưỡng tâm hồn con người nên nhà có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi người.

Nhà truyền thống là kết tinh giá trị văn hoá, là tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Nhà truyền thống thể hiện trình độ văn hoá của dân tộc, đồng thời còn thể hiện tài năng và óc sáng tạo của người dân Việt. Đó cũng lầ nét đặc sắc trong văn hoá của dân tộc, phân biệt dân tộc Việt Nam với những dân tộc khác. Nhà truyền thống còn là nơi lưu trữ những giá trị văn hoá lâu đời của dân tộc, là kho tàng giá trị to lớn về điêu khắc, kiến trúc dân gian. Ngoài ra, nhà truyền thống còn ghi lại dấu ấn lịch sử dân tộc và có giá trị trong việc nghiên cứu cuộc sống sinh hoạt của người dân Việt Nam xưa. Bên cạnh đó, nó còn góp phần tạo nên vẻ đẹp yên bình cho làng quê Việt Nam để phát triển du lịch.

C. BẢO TỒN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Các công trình kiến trúc cổ đã và đang xuống cấp nghiêm trọng, sự mai một về tính thẩm mỹ trong thiết kế nhà ở nông thôn đang cho thấy sự bất cập của đô thị hóa. Chính vì vậy việc định hướng phát triển kiến trúc nhà ở nông thôn là hết sức cần thiết. Điều đó tạo nên diện mạo không chỉ cho làng quê Việt Nam mà còn nằm trong tổng thể kiến trúc khu vực. Đề xuất tiêu chí đánh giá giá trị của công trình kiến trúc, nhằm định hướng phát triển và bảo tồn, tu bổ. Ta có thể đưa 4 mức đánh giá sau:

- Giá trị đặc biệt: Các làng cổ có giá trị đặc biệt về quy hoạch, kiến trúc cần bảo tồn nguyên gốc (ví dụ như Làng cổ Đường Lâm ở ngoại thành Hà Nội), tránh mọi tác động xấu ảnh hưởng đến quy hoạch và kiến trúc của làng.

- Giá trị cao: Các làng có giá trị cao về quy hoạch và kiến trúc công trình, có các làng nghề thủ công cần thiết phải giữ lại để bảo tồn kiến trúc nhà ở truyền thống, đặc biệt là các ngôi nhà cổ được xây dựng trước những năm 1930. Làng xóm có kiến trúc và quy hoạch mang bản sắc văn hoá truyền thống, có các làng nghề cần phải bảo tồn. Các ngôi nhà dân gian được xây dựng từ năm 1930 đến năm 1945. Lưu ý các làng nghề cần phải quy hoạch khu dãn dân và cụm công nghiệp nhỏ để đưa các làng nghề ra khỏi làng truyền thống nhằm tránh ảnh hưởng xấu của môi trường tác động đến đời sống dân cư của làng.

- Giá trị trung bình: Đó là các làng mới và nhà cửa được quy hoạch xây dựng từ năm 1945 đến năm 1986. Các làng này nên giữ lại quy hoạch, không cho cơi nới và phá vỡ cấu trúc hình thái không gian của làng và khuôn viên ngôi nhà.

- Giá trị thấp: Đó là các khu dãn dân tự phát bám theo các trục đường làng không có quản lý quy hoạch được xây dựng từ năm 1986 đến nay. Các khu nhà ở này cần phải đầu tư xây dựng cải tạo hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trồng cây xanh và nhất thiết phải hạn chế xây dựng các loại hình kiến trúc nhà ở kiểu hộp diêm (sản phẩm của nhà ở đô thị).

Từ các mức đánh giá đó ta có thể đưa ra các biện pháp bảo tồn nhà ở nông thôn khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Đồng thời nhà nước đưa ra các chính sách, quy hoạch cụ thể kết hợp giữa quy hoạch và định hướng phát triển vùng miền. Bên cạnh những định hướng chiến lược lâu dài cần có biện pháp bảo tồn, tu bổ kịp thời với những công trình đang xuống cấp. Mặt khác, đối với địa phương còn nhiều khó khăn về kinh phí như hiện nay thì cần đẩy mạnh giải pháp xã hội hóa, huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động bảo tồn, trong đó tập trung vào việc vận động chính chủ nhà gìn giữ nguyên trạng các căn nhà truyền thống đang có.

Các kiến trúc sư phải là những người có trách nhiệm tiên phong trong việc thiết kế các công trình văn hoá cộng đồng nông thôn và đặc biệt là loại hình kiến trúc nhà ở nông thôn mới. Kết hợp đưa ra các quy chuẩn về nhà ở nông thôn từ diện tích chiếm đất, chiều cao công trình, diện tích sàn, khoảng lùi so với chỉ giới quy hoạch, đến các công năng phù hợp với nhu cầu nhà ở nông thôn mới, tỷ lệ % diện tích trồng cây xanh, mặt nước trong khuôn viên khu đất xây dựng nhà ở.

Tóm lại:

Việt Nam và Hàn Quốc cùng nằm ở châu Á, đồng thời có ảnh hưởng mạnh mẽ từ nền văn hóa Trung Hoa. Nên nhà ở của 2 đất nước cũng có những nét tương đồng như: đều lợp mái bằng tranh, bằng ngói, … Đồng thời, các nguyên liệu làm nhà chủ yếu là từ tự nhiên như: gỗ, rơm, đất, đá,….. Thông qua ngôi nhà thì chúng ta cũng nhận ra được những vị trí giữa các phòng cũng có những nét khá tương đồng. Những ngôi nhà cổ Hanok và nhà truyền thống Việt có những ứng dụng thực tế, ứng dụng cho nghiên cứu văn hóa; cũng như trong sinh hoạt, trong nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của mỗi dân tộc qua các thời kỳ. Thêm nữa là nền văn hóa Á Đông với những người dân chịu khó, siêng năng tần tảo khi phải đối chọi với thiên nhiên, ngôi nhà luôn được xây dựng theo triết lý ngũ hành, âm dương hài hòa. Và cả hai cùng có biển, nên để tránh gió thường xây hướng Nam.

Song, bên cạnh đó cũng có những khác biệt đáng kể. Đó là do điều kiện thời tiết và địa hình mỗi khu vực là khác nhau; nằm trong khu vực ôn đới nên Hàn Quốc rất lạnh vào mùa Đông và cực nóng vào mùa hè, để đối phó với cái lạnh thấu xương họ đã sáng tạo ra hệ thống lò sưởi Oldon, đồng thời với cấu trúc nhà chặt chẽ, kín gió nhưng cũng rất mát mẻ. Còn Việt Nam ở khu vực khí hậu ôn đới mát mẻ hơn, cùng với đó là đất sinh sống chủ yếu ở đồng bằng nên nhà ở làm ngay trên khu đất và thoáng hơn so với nhà Hanok.

Thêm nữa là sự khác nhau giữa những hình ảnh được điêu khắc lên nhà ở hai đất nước. Những hình ảnh mang ý nghĩa về văn hóa của người dân của hai đất nước.

ü Tài liệu tham khảo:

https://ko.wikipedia.org/wiki/한옥

Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải Số 23 – 8/2010

다문화 가정을 위한 한국전통문화 따라잡기 경상복도 농업기술원. (https://books.google.com.vn/books?id=j7QUBwAAQBAJ&pg=PA25&lpg=PA25&dq=%E1%BB%91ng+kh%C3%B3i+amisan+c%E1%BB%A7a+Gyeongbukgung&source=bl&ots=cRJTiD2GiS&sig=JofN0vLURenu0_kELj3yGyh8nVs&hl=vi&sa=X&ved=0ahUKEwjs64uEjKrLAhVDkI4KHZinCjAQ6AEIGzAA#v=onepage&q=%E1%BB%91ng%20kh%C3%B3i%20amisan%20c%E1%BB%A7a%20Gyeongbukgung&f=false)

https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A0ng_Hanok_Namsangol

http://dulichhanquoc.cc/dia-diem-du-lich/kham-pha-lang-truyen-thong-hanok-o-namsangol-seoul.html

http://tournhathan.com/kham-pha/nha-truyen-thong-han-quoc-hanok/

http://www.dulichnhathan.com/kinh-nghiem-du-lich-han-quoc/doi-net-ve-ngoi-nha-truyen-thong-han-quoc-4147.html#.VtZTZvmLTIX

http://world.kbs.co.kr/vietnamese/archive/program/program_touringseoul.htm?no=13169

https://visitkorea.org.vn/dia-diem/yongin-than-thien-va-hap-dan-1124.html

http://m.korea.net/vietnamese/AboutKorea/Living-in-Korea/Experiencing-Korean-Traditional-Culture

http://dulichhanquoc.cc/dia-diem-du-lich/cac-lang-lich-su-cua-han-quoc-hahoe-va-yangdong.html

http://english.visitkorea.or.kr/enu/ATR/SI_EN_3_6.jsp?cid=1949824

http://pheurontay.com/the-hanok-smith-likes-samcheong-dong/

http://english.visitkorea.or.kr/enu/ATR/SI_EN_3_1_1_1.jsp?cid=561382

http://nhagovn.com/nha-go-co-truyen-bac-bo-2.html

http://xuhuongdulich.com/nhung-ngoi-lang-co-o-viet-nam/

http://xuhuongdulich.com/nhung-ngoi-lang-co-o-viet-nam/

http://quangbawebsitetrengoogle.blogspot.com/2014/10/biet-thu-pho-hien-ai-kts-viet-nam.html

http://disanxanh.cinet.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=61070&sitepageid=25

http://nhagovn.com/nha-go-co-truyen-bac-bo-2.html


{ Hãy nhập thông tin bình luận bài viết này }
 
hoailinh1710 đã offline
 #1  
Những thành viên sau đã cảm ơn hoailinh1710 vì bài viết hữu ích này:
tuyetthuytinh
23/4/2016 3:23:53 PM
Lơ tơ mơ

Cấp bậc: THÀNH VIÊN MỚI

Tham gia: 24/2/2016
Bài viết: 29
Đến từ: lớp 2- Hàn quốc học- ĐH KHXH&NV TPHCM

Đánh giá: [0]
Về hình thức, Bạn chỉnh phông chữ cho đồng nhất giữa các phần bạn nhé! Và chú ý cách trình bày.
Nội dung của các bạn nghiên cứu tương đối nhưng chưa sâu phần Ondol.
Phần so sánh với Việt Nam, theo mình bạn không nên trình bày dài dòng về đặc trưng nhà ở của nước ta như vậy, chỉ cần xác định được đặc trưng khác nhau cơ bản và cơ sở quyết định sự khác biệt giữa hai nước ngắn gọn là được rồi.
Mình góp ý nhỏ, các bạn xem lại nhé.
Cảm ơn các bạn.

{ Hãy nhập thông tin bình luận bài viết này }
 
tuyetthuytinh đã offline
 #2  
hoailinh1710
30/4/2016 1:29:47 PM
Lơ tơ mơ

Cấp bậc: THÀNH VIÊN MỚI

Tham gia: 31/3/2015
Bài viết: 50
Đến từ: Hàn 1-HQH-ĐHKHXNNV

Đánh giá: [0]

Cảm ơn: 1 lần
Được Cảm ơn: 3 lần
tuyetthuytinh đã viết:
Về hình thức, Bạn chỉnh phông chữ cho đồng nhất giữa các phần bạn nhé! Và chú ý cách trình bày.
Nội dung của các bạn nghiên cứu tương đối nhưng chưa sâu phần Ondol.
Phần so sánh với Việt Nam, theo mình bạn không nên trình bày dài dòng về đặc trưng nhà ở của nước ta như vậy, chỉ cần xác định được đặc trưng khác nhau cơ bản và cơ sở quyết định sự khác biệt giữa hai nước ngắn gọn là được rồi.
Mình góp ý nhỏ, các bạn xem lại nhé.
Cảm ơn các bạn.

cảm ơn ý kiến đosng góp của bạn nha. Mình xin đại diện nhóm để trả lời bạn. Thật ra thì do bài nhóm mình dài quá và còn có nhiều hình ảnh nữa mà khi đawng lên diễn đàn thì lại gặp rất nhiều bất tiện và sự cố. Bọn mình đã đăng đi đawng lại trên 3 lần mới đuowsjc đó. Chắc là do quá trình đăng bài bị sao đos nên phông chữ bị lỗi. Và mình thấy phần Ondol nhóm mình làm kĩ mà ta. Không biết theo bạn thì nhóm mình còn thiếu phần nào nhỉ? Còn phần về Việt Nam, 2 bạn làm phần đó làm kĩ quá đos mà :))) nhưng mà nhìn chung toàn bài thì vẫn còn nhiều thiếu sót lắm nhỉ. Chúng mình cũng đã được thầy nhận xét nhiều. :((

{ Hãy nhập thông tin bình luận bài viết này }
 
hoailinh1710 đã offline
 #3  
Thành viên đang xem
Có 1 người dùng đang xem (1 khách)
Trang chủ » HÀN QUỐC & HÀN QUỐC HỌC » Nghiên cứu văn hóa - xã hội » (Đọc 4-bài tập nhóm 5): Hanok và nhà truyền thống của Việt Nam
Di chuyển nhanh:  
Có bài mới Có bài mới Không có bài mới Không có bài mới
Có bài mới (Đã khóa) Có bài mới (Đã khóa) Không có bài mới (Đã khóa) Không có bài mới (Đã khóa)
Thông báo Thông báo Chú ý Chú ý
Đã chuyển Đã chuyển Bình chọn Bình chọn
Bạn không thể gửi bài viết mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xóa bài viết của bạn
Bạn không thể chỉnh sửa bài viết của bạn
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn có thể bình chọn
Giờ hiện tại: 3:31 AM - GMT + 7

phim nhat ban|sửa chữa nhà hà nội|phim an do